Posted by: admin | October 24, 2008

Chương 1

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT LENIN VA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC

1- Quan điểm của Lenin về chủ nghĩa tư bản nhà nước

1- QUAN ĐIỂM CỦA LÊNIN VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC
Năm 1918, sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, Lênin cho rằng chủ nghĩa tư bản nhà nước là sản phẩm của đấu tranh chính trị, là sự nhượng bộ tạm thời của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đối với giai cấp tư sản khi nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động không tiêu diệt họ, mà sử dụng họ như những chuyên gia kinh tế – kỹ thuật và quản lý, khoản thù lao trả cho họ được coi là học phí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong quá trình xây dựng xã hội mới.
Sau ba năm thực hiện “chính sách cộng sản thời chiến” vì điều kiện chiến tranh và để cứu nguy cho nền kinh tế khỏi sụp đổ, Lênin đã nhạy cảm nhận thấy rằng, chính sách cộng sản thời chiến không phải là chính sách phù hợp với giai đoạn mới, nó chỉ là giải pháp tạm thời để cứu nguy cho chính quyền Xô-viết. Người đã đề ra Chính sách kinh tế mới (NEP) mà thực chất là chuyển từ biện pháp nhà nước trực tiếp tổ chức theo kiểu cộng sản chủ nghĩa thời chiến, việc sản xuất và phân phối sản phẩm sang nền kinh tế hàng hóa, tăng cường liên minh kinh tế chặt chẽ giữa giai cấp công nhân và nông dân thông qua việc sử dụng rộng rãi hàng hóa tiền tệ và thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước. Lúc này, quan điểm của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước đã khác trước rất nhiều. Lênin cho rằng chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bộ phận kinh tế tồn tại thực sự trong nền chuyên chính vô sản. Bởi vậy, thời kỳ này trong chính sách của mình, Lênin đã thừa nhận sự hiện diện của giai cấp Cu-lắc ở nông thôn, giai cấp tư sản ở thành thị và thừa nhận sự trao đổi tự do các sản phẩm của nông dân sau khi họ làm tròn nghĩa vụ thuế đối với nhà nước.
Đến năn 1922, Lênin cho rằng phải xem chủ nghĩa tư bản nhà nước như là một đường lối chiến lược trong phát triển kinh tế thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, bởi vì:
Trước hết là, xuất phát từ trình độ phát triển còn thấp của nền kinh tế khi bước vào thời kỳ quá độ. Những điều kiện đó chưa cho phép tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, lên các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nghĩa là chưa cho phép thiết lập ngay các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa như là hình thức kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân.
Hai là, trong điều kiện nền sản xuất nhỏ thì sự phát triển tư bản chủ nghĩa, như “một tất yếu không thể tránh khỏi và cần thiết”, cái chủ nghĩa tư bản đó là xấu so với chủ nghĩa xã hội, nhưng nó lại là tốt so với thời trung cổ, với nền tiểu sản xuất, với chủ nghĩa quan liêu do tình trạng phân tán của người tiểu sản xuất gây nên. Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội, bởi vậy trong một chừng mực nào đó, chủ nghĩa tư bản là không tránh khỏi… Những người cộng sản phải biết sử dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, dùng nó làm phương tiện, con đường, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên”(1). Hơn nữa, trong điều kiện chính quyền nằm trong tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động và nền chuyên chính đó được đảm bảo bởi sự liên minh giữa giai cấp công nhân với quần chúng lao động tiểu tư hữu (trước hết là nông dân), thì có thể bằng con đường của chủ nghĩa tư bản nhà nước (nhà nước ở đây là nhà nước xã hội chủ nghĩa) mà đi lên chủ nghĩa xã hội. Lênin đánh giá cao tính quá độ hiện thực của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Người cho rằng, chỉ cần trong điều kiện một nhà nước “dân chủ – cách mạng” thực sự, chưa phải là chuyên chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tức là một nhà nước dùng biện pháp cách mạng để thủ tiêu mọi đặc quyền, một nhà nước không sợ dùng biện pháp cách mạng để thực hiện một chế độ dân chủ nhất thì chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là nấc thang lịch sử mà giữa nó (nấc thang đó với nấc thang được gọi là chủ nghĩa xã hội) thì không có nấc thang nào ở giữa cả (1).
Đó là thời kỳ quá độ đặc biệt, đặc biệt ở chỗ “nó không chỉ là thời kỳ quá độ từ một hình thái kinh tế – xã hội cũ sang một hình thái kinh tế- xã hội mới, mà còn là thời kỳ tạo ra điều kiện vật chất thực sự cho sự quá độ lên hình thái mới”, “Những bước trung gian”, “ những nấc thang phát triển trung gian” trước chủ nghĩa xã hội được xây dựng trên cơ sở của chính nó.
Lênin quan niệm rằng, trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa tư bản nhà nước là điều kiện tốt để nâng cao trình độ quản lý của chính quyền Xô-viết. Lênin kêu gọi và đặt ra nhiệm vụ cho những người cộng sản, hãy học tập phương pháp, cách thức, hình thức mà các Tờ-rớt tư bản chủ nghĩa đã sử dụng để tổ chức liên kết hàng vạn, hàng triệu người xung quanh những tổ chức kinh tế quy mô lớn. Những phương pháp, phương thức như vậy chúng ta có thể tìm tòi, học hỏi ở bất cứ một nước tư bản chủ nghĩa nào. Nếu chúng ta ra sức học tập, dốc hết sức mà “bắt chước nó” thì từ đỉnh cao công nghiệp, từ các đỉnh cao kinh tế chúng ta có thể tổ chức được nền kinh tế quốc dân.
Lênin viết, “không có kỹ thuật đại công nghiệp tư bản được xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không có một tổ chức nhà nước có kế hoạch khiến cho hàng triệu người phải tuân theo hết sức nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản xuất và phân phối sản phẩm, thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được… Đồng thời nếu không có sự thống trị của giai cấp vô sản trong nhà nước thì cũng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được, đó cũng là một điều sơ đẳng”(1).
Mục đích của việc nhượng bộ giai cấp tư sản về mặt kinh tế là thành lập một liên minh kinh tế, một dạng thỏa hiệp với họ và khi ấy chính quyền công nhân thu được nhiều cái lợi. Bảo tồn được tư liệu sản xuất và cơ cấu quản lý sản xuất đã hình thành, sử dụng được năng lực của các chuyên gia tư bản. Đặc biệt, trong một nước mà sản xuất nhỏ chiếm ưu thế thì cái lợi lớn hơn cả là trên cơ sở sử dụng lợi ích tư hữu tư bản chủ nghĩa như một động lực, phát triển được ngay lập tức nền sản xuất theo hướng sản xuất lớn, tập trung dưới sự kiểm soát của nhà nước chống lại sự hỗn loạn của tiểu tư sản.
Tiền đề tổ chức chủ nghĩa tư bản nhà nước là chế độ kiểm kê, kiểm soát của toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm. Không có kiểm kê, kiểm soát thì chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ trở thành chủ nghĩa tư bản nhà nước thông thường, nghĩa là chủ nghĩa tư bản đầu cơ, chạy theo lợi nhuận một cách vô tội vạ. Lênin: “không có chế độ kế toán và kiểm soát trong công việc sản xuất và phân phối sản phẩm thì những mầm mống của chủ nghĩa xã hội sẽ bị tiêu diệt”(2).
Thực hiện chính sách chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng có nghĩa là phải thẳng tay trấn áp loại tư bản không chịu sự kiểm soát của nhà nước, loại bỏ tư bản đầu cơ, ăn cắp, gian lận, đồng thời phải ủng hộ loại tư sản văn minh “có kỷ luật”, “làm ăn chính đáng” – Nghĩa là ủng hộ loại tư bản tuân thủ sự kiểm soát của nhà nước. Lênin cũng nhấn mạnh rằng, đứng về phương diện kinh doanh mà xét thì không thể phân biệt được đầu cơ với buôn bán chính đáng. Vì vậy, trong vấn đề này, nhà nước vô sản phải nhìn nhận từ phương diện pháp luật, phải quản lý bằng pháp luật và quản lý một cách hết sức nghiêm ngặt. “Phải duyệt lại và sửa đổi tất cả các luật lệ về đầu cơ, phải tuyên bố rằng mọi hành vi ăn cắp, mọi mưu toan trực tiếp hoặc gián tiếp công khai hoặc lén lút, lẩn tránh sự kiểm tra giám sát, sự kiểm kê của nhà nước đều bị trừng phạt (và thực tế phải trừng trị nghiêm khắc gấp 3 lần trước đây). Chính có đặt vấn đề như vậy… chúng ta mới hướng được sự phát triển của chủ nghĩa tư bản – một sự phát triển không tránh được và trong một chừng mực nào đó là cần thiết – đi vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước”(1).
Hình thành trong mối quan hệ tương tác giữa thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa với các thành phần kinh tế khác, chủ nghĩa tư bản nhà nước là một hình thức giải quyết mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế quá độ giữa hệ thống sản xuất mới đang hình thành và quan hệ sản xuất cũ đã mất địa vị thống trị nhưng chưa bị đánh bại hẳn. Một mặt, chủ nghĩa tư bản nhà nước là hình thức kinh tế thỏa mãn được lợi ích tư hữu của các nhà sản xuất hàng hóa – mà lợi ích tư hữu này là động lực phát triển vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế thời kỳ quá độ; mặt khác, chủ nghĩa tư bản nhà nước phục vụ đắc lực cho thành phần kinh tế khác. Vì vậy, chủ nghĩa tư bản nhà nước trên thực tế là sự chuẩn bị để mở rộng hệ thống kinh tế có kế hoạch và do vậy là hình thức chung sống giữa các thành phần kinh tế “đáng mong muốn nhất đối với chủ nghĩa xã hội”.
Nhưng vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước không phải dừng lại ở đó. Trong điều kiện một nền kinh tế kém phát triển thì sự hình thành chủ nghĩa tư bản nhà nước còn là một phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa hệ thống quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đang hình thành và cơ sở vật chất là nền sản xuất nhỏ không phù hợp với nó. Cơ sở vật chất của hệ thống tổ chức sản xuất có kế hoạch trên quy mô toàn xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp. Khi chưa có cơ sở sản xuất này – tức là chưa có điều kiện vật chất cần thiết cho việc hợp nhất mọi quá trình sản xuất riêng biệt vào một quá trình sản xuất xã hội chung, thì khi ấy lãnh đạo có kế hoạch nền kinh tế còn mang tính hình thức, áp đặt.
Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất mới và cơ sở vật chất kém phát triển chỉ có thể được giải quyết bằng cách phát triển sản xuất lớn. Ở đây, chủ nghĩa tư bản nhà nước là công cụ đắc lực để huy động sức người, sức của từ các thành phần kinh tế khác nhau cho sản xuất lớn. Lênin cho rằng vì mục đích phát triển ngay lập tức lực lượng sản xuất xã hội, có thể sử dụng cả tư bản tư nhân chứ chưa nói gì đến chủ nghĩa tư bản nhà nước – vừa tăng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vừa tăng tích lũy trực tiếp để phát triển cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một bước tiến to lớn dù cho chúng ta phải trả một khoản lớn hiện nay. Bởi vì, trả học phí là một việc đáng giá, vì cái đó có lợi cho công nhân, vì việc để chiến thắng tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh tế và hiện tượng lỏng lẻo là cái quan trọng hơn hết, vì việc để tình trạng vô chính phủ của những kẻ tiểu tư hữu tiếp tục tồn tại là một mối nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất, nó sẽ làm chúng ta diệt vong nếu chúng ta không chiến thắng nó một cách dứt khoát, còn một khoản lớn cho chủ nghĩa tư bản nhà nước thì điều ấy không những không làm cho chúng ta diệt vong, trái lại sẽ đưa chúng ta đến chủ nghĩa xã hội bằng con đường chắc chắn nhất”(1).
Sự phát triển chủ nghĩa tư bản do nhà nước xã hội chủ nghĩa kiểm soát và điều khiển có thể đẩy nhanh sự phát triển nền nông nghiệp. Nhờ việc tăng nhanh lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mà ổn định xã hội, thoát khỏi khủng hoảng, củng cố tín nhiệm của nông dân với chính quyền Xô-viết.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước còn được gọi là công cụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và những lệch lạc quan liêu chủ nghĩa. Khi nói tới chính sách kinh tế mới, Lênin đề cập tới nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu và tác phong tiểu tư sản. Lênin phân tích nguồn gốc kinh tế của chủ nghĩa quan liêu ở Nga là tình trạng riêng lẻ, tình trạng phân tán của người sản xuất nhỏ, cảnh khốn cùng của họ, tình trạng dốt nát của họ, tình trạng không có đường sá, nạn mù chữ, tình trạng không có sự trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp.
Thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, giai cấp công nhân và nhân dân lao động có thể học tập được cách quản lý một nền sản xuất lớn, tổ chức được một nền sản xuất lớn theo mô hình tư bản nhà nước thông qua sự du nhập của tư bản từ bên ngoài, du nhập tiến bộ kỹ thuật hiện đại. Đồng thời, chủ nghĩa tư bản nhà nước mang lại cái lợi là thông qua phát triển nó mà phục hồi được giai cấp công nhân hiện đại. Nếu chủ nghĩa tư bản nhà nước có lợi thế thì sản xuất công nghiệp cũng sẽ tăng lên và giai cấp công nhân cũng theo đó mà trưởng thành nhanh hơn.
Tóm lại, quan niệm của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước được xem như là con đường tất yếu đối với các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế lạc hậu. (1) Chủ nghĩa tư bản nhà nước với hình thức cao nhất của nó là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội; (2) Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là mắt xích trung gian để chuyển nền kinh tế hàng hóa của những người sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội, chính nó là phương thức phát triển lực lượng sản xuất đặc trưng cho nền sản xuất hàng hóa nhỏ, bao hàm trong đó sự phát triển kinh tế hàng hóa, phát triển kinh tế thị trường ở trình độ cao, văn minh; (3) Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một chính sách để phát triển đại công nghiệp và củng cố liên minh công nông trên cơ sở mới; (4) Là phương thức kiểm kê, kiểm soát có hiệu quả của nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ trong quá trình phát triển; (5) Là biểu hiện sinh động của việc biết cách học tập chủ nghĩa tư bản, biết cách vận dụng sáng tạo những thành tựu quản lý, phương thức, phương pháp điều khiển có hiệu quả nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vào nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
* Các hình thức tồn tại của chủ nghĩa tư bản nhà nước theo quan niệm của V.I. Lênin.
V.I Lênin cho rằng, mục đích của thực tiễn là tìm ra những hình thức cụ thể để thực hiện mô hình tư bản nhà nước, Người không ràng buộc chủ nghĩa tư bản nhà nước chỉ vào một số hình thức tồn tại bất di bất dịch nào đó. Quan điểm chung của Lênin là: “ … ở chỗ nào có những thành phần tự do mua bán và những thành phần tư bản chủ nghĩa nói chung thì ở đó có chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức này hay hình thức khác, ở trình độ này hay trình độ nọ”(1). Như vậy trong điều kiện của nhà nước chuyên chính vô sản, nếu có sử dụng hay cho tồn tại những hình thức kiểu “tự do mua bán” hoặc những thành phần kinh tế kiểu tư bản chủ nghĩa được điều hành quản lý bởi nhà nước xã hội chủ nghĩa thì đó là những hình thức biểu hiện của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Thực tiễn sẽ chỉ ra những hình thức cụ thể sáng tạo, sinh động mà không một nhà tư tưởng nào có thể áp đặt từ chỗ hư vô được. Xuất phát từ thực tiễn, lúc sinh thời người đã tổng kết và nêu lên một số hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước được thực thi, bao gồm các hình thức sau:
Hình thức tô nhượng
Trong cuốn bàn về “Thuế lương thực”, Lênin đề cập rất nhiều tới hình thức tô nhượng, từ chỗ nêu định nghĩa đến việc xác định sự cần thiết phải áp dụng hình thức tô nhượng, cũng như những lợi hại và những điều kiện không đáng sợ đối với hình thức tô nhượng.
Tô nhượng là gì? Theo Lênin, đó là hợp đồng giữa nhà nước và một nhà tư bản, người này cam kết tổ chức hoặc hoàn thiện sản xuất (chẳng hạn như đẵn và chở gỗ, khai thác than, dầu lửa, khoáng sản, v.v…) trả cho nhà nước một phần sản phẩm sản xuất và nhận được một phần khác dưới danh nghĩa là lãi. Lênin giải thích rõ thêm: “nếu xét về phương diện các kết cấu kinh tế – xã hội cũng như về mối quan hệ giữa những kết cấu ấy với nhau thì trong chế độ Xô-viết tô nhượng là gì? Đó là một giao kèo, một sự liên kết, một liên minh giữa chính quyền Xô-viết, nghĩa là nhà nước vô sản với chủ nghĩa tư bản, chống lại thế lực tự phát tư hữu (có tính chất gia trưởng và tiểu tư sản)(1).
Nhà tư bản tiến hành kinh doanh với tư cách là một bên ký kết, là người thuê tư liệu sản xuất xã hội chủ nghĩa và thu được lợi nhuận của tư bản mà mình bỏ ra và nộp cho nhà nước một phần sản phẩm tô nhượng, là hình thức kinh tế mà hai bên cùng có lợi. Nhà tư bản kinh doanh theo phương thức tư bản cốt để thu lợi nhuận bất thường, siêu ngạch hoặc khó tìm được loại nguyên liệu mà họ không tìm được, hoặc khó tìm được bằng cách khác. Trong hợp đồng giao kèo dưới hình thức tô nhượng này, chính quyền Xô-viết cũng được lợi rất lớn. Trước hết, chính quyền sẽ thu được một số lượng sản phẩm nhất định do các nhà tư bản trích nộp lại. Hai là, chính quyền Xô-viết sẽ sử dụng được tư bản, trang thiết bị hiện đại của nhà tư bản phục vụ sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Đánh giá về tính chất của hình thức tô nhượng, Lênin cho rằng: “So với những hình thức khác, tô nhượng có lẽ là hình thức đơn giản nhất, rành mạch nhất, sáng tỏ nhất, có hình thù rõ rệt nhất. Ở đây, chúng ta có một hợp đồng trực tiếp, chính thức viết trên giấy tờ với chủ nghĩa tư bản Tây Âu, là chủ nghĩa tư bản văn minh nhất, tiên tiến nhất. Chúng ta biết đích xác cái lợi và cái hại cho chúng ta, những quyền lợi và nghĩa vụ của chúng ta, chúng ta biết đích xác thời hạn chúng ta tô nhượng, chúng ta biết những điều kiện để chuộc lại trước kỳ hạn, nếu hợp đồng có nói đến quyền ấy. Chúng ta trả một “cống nạp” cho chủ nghĩa tư bản thế giới, về một số mặt nào đó, chúng ta trả cho họ một số tiền chuộc, nhưng chúng ta có ngay được một biện pháp nhất định để củng cố chính quyền Xô-viết để cải thiện những điều kiện làm ăn của chúng ta”(1).
Ý đồ chiến lược của chính sách tô nhượng theo Lênin không phải là cải thiện đời sống công nhân mà là nâng cao lực lượng sản xuất và là một sự giao dịch, trong đó chúng ta phải chịu hy sinh để tăng số lượng sản phẩm lên. Bởi vì, bản chất của tư bản là lợi nhuận, nếu muốn thu hút họ vào đầu tư phải có chính sách khuyến khích tối đa. Lênin viết: “Tôi không hề hạ thấp những hy sinh đó, nhưng tôi đã từng nói rằng có thể là chúng ta đành phải để cho nhà tư bản hưởng chẳng những hàng trăm, thậm chí cả hàng nghìn phần trăm tiền lãi: và đây là mấu chốt của vấn đề”(1).
Hình thức tô nhượng là sự du nhập chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài. Tất cả khó khăn trong nhiệm vụ này là phải suy nghĩ, phải cân nhắc hết mọi điều kiện khi ký hợp đồng tô nhượng, nhất là tỷ lệ ăn chia sao cho hấp dẫn. Ở đây, Lênin đưa ra tỷ lệ rất mạnh dạn 1/3, 1/4. Sau đó phải biết theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc chấp hành hợp đồng như thế nào.
Lênin đánh giá rất cao vai trò của hình thức tô nhượng, vì vậy hình thức tô nhượng được coi là phổ biến hơn cả. Với cách đặt vấn đề của Lênin hồi đó có thể quan niệm đó là hình thức “làm ăn” với tư bản nước ngoài nói chung. Song, Lênin cũng đã nêu lên những quan điểm cần chú ý như sau:
Để thực hành chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tô nhượng cần phải từ bỏ chủ nghĩa ái quốc địa phương của một số người cho rằng tự mình có thể làm lấy. Lênin nêu rõ, cần phải sẵn sàng chịu đựng cả một loạt hy sinh thiếu thốn và bất lợi miễn sao có được một chuyển biến quan trọng là cải thiện tình trạng kinh tế trong các ngành công nghiệp chủ yếu. Cũng phải dự kiến rằng, trong thời gian đầu không thể tránh khỏi sai lầm, nhưng dù sao cũng phải cố đạt được điều đó.
Hình thức hợp tác xã
Thoạt đầu, Lênin quan niệm tất cả các loại hợp tác xã đều là hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước. Về sau, từ thực tiễn nước Nga, Lênin đã phân biệt tổ chức kinh tế này trong những chế độ khác nhau. Nghĩa là trong thực tế tồn tại hai chế độ hợp tác xã: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Chế độ hợp tác xã tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ Xô-viết được gọi là hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Lênin đặt vấn đề: “Phải biết áp dụng những nguyên tắc, những nguyên lý, nhưng trên cơ sở của chính sách tô nhượng (tức là giống như chủ nghĩa tư bản nhà nước trong lĩnh vực tô nhượng vào những hình thức của chủ nghĩa tư bản, của tự do mua bán, của những trao đổi địa phương v.v…)”.
Từ đó, Lênin xem: “Các hợp tác xã cũng là hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước nhưng ít đơn giản hơn, có hình thù ít rõ rệt hơn và vì trong thực tế nó đặt chính quyền Xô-viết trước những khó khăn lớn hơn”(1).
Các hợp tác xã ở đây là chủ nghĩa tư bản hợp tác xã, hợp tác xã của các nhà tư bản nhỏ, các tiểu chủ của hàng triệu tiểu nghiệp chủ. Dưới chính quyền Xô-viết, chủ nghĩa tư bản hợp tác xã khác với chủ nghĩa tư bản tư nhân, nó là hình thái của chủ nghĩa tư bản nhà nước và bản thân nó là có lợi và có ích cho chúng ta, dĩ nhiên là có lợi và có ích trong một mức độ nào đó. Hình thức hợp tác xã là giải pháp cực kỳ quan trọng để từng bước đưa hàng triệu tiểu nghiệp chủ vào quỹ đạo xã hội chủ nghĩa, cả tiểu tư sản nông thôn và thành thị.
Tuy nhiên, giữa hình thức tô nhượng với hợp tác xã, có sự khác nhau khá lớn về nội dung, trình độ của lực lượng sản xuất, các mối quan hệ, phương thức và điều kiện thi hành. Theo Lênin, tô nhượng dựa trên cơ sở đại công nghiệp, cơ khí hóa, còn chế độ hợp tác xã dựa trên bộ phận thậm chí còn có tính chất gia trưởng. Trong mỗi hợp đồng tô nhượng, tô nhượng chỉ quan hệ đến độc nhất nhà tư bản hay độc một hãng, một Xanh-đi-ca, Các-ten hay Tờ-rớt thôi, còn hợp tác xã là bao gồm hàng ngàn, thậm chí hàng triệu tiểu nghiệp chủ
Tô nhượng cho phép, thậm chí phải có một hợp đồng chính xác và một thời hạn chính xác. Hợp tác xã thì không có hợp đồng và cũng không có thời hạn thật chính xác. Bãi bỏ một hợp đồng tô nhượng không khó khăn bằng bãi bỏ một đạo luật về hợp tác xã. Nghĩa là có thể lập tức và đơn giản cắt đứt ngay những quan hệ thực tế của sự liên minh kinh tế hay của sự “chung sống”, thực tế của chính quyền Xô-viết với các nhà tư bản nhỏ, “giám sát” một kẻ tô nhượng là việc dễ nhưng giám sát các xã viên hợp tác xã là một việc khó.
Chuyển từ chế độ tô nhượng lên chủ nghĩa xã hội là chuyển một hình thức đại sản xuất này sang một hình thức đại sản xuất khác. Chuyển từ chế độ hợp tác xã của những nhà sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội là từ tiểu sản xuất lên đại sản xuất, nghĩa là một bước quá độ phức tạp hơn, nhưng nếu thành công lại có thể bao gồm được những khối quần chúng nhân dân đông đảo hơn, nhổ được những gốc rễ sâu xa hơn và dai dẳng hơn của những quan hệ cũ, thậm chí tiền tư bản là những quan hệ phản kháng mọi sự “đổi mới” một cách kịch liệt hơn.
Chính sách tô nhượng một khi thuận lợi sẽ đưa lại cho chúng ta một số ít doanh nghiệp lớn kiểu mẫu. Kiểu mẫu so với doanh nghiệp của chúng ta – ngang trình độ của chủ nghĩa tư bản tiên tiến hiện đại, mấy chục năm nữa những doanh nghiệp ấy hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của chúng ta. Chính sách hợp tác xã một khi thành công sẽ giúp cho nền kinh tế nhỏ phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho nền đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết hợp.
Hình thức đại lý ủy thác
Lênin coi hình thức này là hình thức thứ ba. Đây là hình thức Nhà nước lôi cuốn nhà tư bản với tư cách một nhà buôn, trả cho họ một số tiền hoa hồng để họ bán sản phẩm của nhà nước và mua sản phẩm của nhà sản xuất nhỏ.
Tư bản trong nước thuê doanh nghiệp, vùng mỏ, rừng, đất
Hình thức này giống như hình thức tô nhượng, nhưng đối tượng tô nhượng không phải là tư bản nước ngoài mà là tư bản trong nước. Hình thức này được coi là hình thức riêng biệt để phân biệt với hình thức tương tự nhưng đối tượng cho thuê là tư bản trong nước.
Cho công nhân thuê những hầm mỏ nhỏ
Qua thực tiễn vùng mỏ Đôn-bát, Lênin rút ra một hình thức nữa của chủ nghĩa tư bản nhà nước: Cho nông dân thuê những hầm mỏ. Lênin nhận xét: Chính những hầm mỏ cho nông dân thuê sản xuất lại đặc biệt phát triển hơn những doanh nghiệp lớn nhất trước kia của tư bản, ngang hàng với các xí nghiệp tư bản ở Tây Âu. Những quan hệ của chủ nghĩa tư bản nhà nước được phát triển. Những nông dân này hoạt động theo kiểu nộp tô cho nhà nước (gồm 30% số than khai thác được). Đây cũng là loại hình thức cho thuê, nhưng đối tượng thuê theo cách nói của Lênin là tiểu tư bản.
Công ty hợp doanh
Lênin đã trình bày về những thành tựu đạt được do thực hành chế độ chủ nghĩa tư bản nhà nước trong báo cáo tại Đại hội IV Quốc tế Cộng sản. Khi trình bày về lĩnh vực thương nghiệp, chính quyền Xô-viết đang cố gắng lập ra những công ty hợp doanh và đã thành lập được theo thể thức tiền vốn một phần là của tư bản tư nhân, một phần của tư bản nước ngoài và một phần là của chính quyền Xô-viết.
Lênin nói rõ: “Về thương nghiệp, chúng tôi cần nhấn mạnh thêm rằng chúng tôi đang cố gắng lập ra những công ty hợp doanh và chúng tôi đã thành lập rồi, đó là công ty mà tiền vốn thì một phần của tư bản tư nhân, của tư bản ngoại quốc và một phần khác là của chúng tôi. Như thế là chúng tôi học tập làm công tác thương nghiệp, chúng tôi cần đến thương nghiệp(1)”. Về thực chất công ty hợp doanh là hình thức liên kết sản xuất và phân chia lợi nhuận một cách tối ưu nhất dưới sự kiểm soát của nhà nước. Mô hình này ngày nay đang được vận dụng ở nhiều nước, kể cả ở các nước tư bản phát triển. Cổ phần hóa các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam cũng là bước thể chế sáng tạo quan điểm trên đây của Lênin.
Một hình thức khác nữa của chủ nghĩa tư bản nhà nước
Theo quan niệm của Lênin, nhà nước xã hội chủ nghĩa thiết lập sự kiểm kê, kiểm soát hoạt động của các tổ chức kinh tế tư nhân, bao gồm:
– Khối lượng và chủng loại sản phẩm được sản xuất;
– Giá cả và chất lượng hàng hóa;
– Thị trường tiêu thụ sản phẩm và cung ứng tư liệu sản xuất;
– Lợi nhuận và điều tiết lợi nhuận;
– Quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê;
Sự kiểm kê, kiểm soát những lĩnh vực nói trên được thực hiện có hiệu quả nhất là thông qua việc sử dụng các công cụ kinh tế như: thương nghiệp, tài chính, tín dụng, ngân hàng, thị trường, giá cả… của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
* Thực tiễn mô hình chủ nghĩa tư bản nhà nước được vận dụng ở nước Nga thời Lênin bước đầu đã đem lại những chuyển biến nhất định.
1. Sau một năm thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước, Lênin đã đánh giá bài học thứ nhất và giai đoạn thứ nhất đã trải qua hồi mùa xuân năm 1921, đó là sự phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trên con đường mới, đạt được một số thành quả, nhưng cũng đang vấp phải những mâu thuẫn chưa từng thấy, thực tế những người cộng sản chưa nắm vững lý luận về lĩnh vực này. Lênin cho rằng từ nhận thức về xây dựng chủ nghĩa xã hội chuyển sang vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, nhà nước cần phải điều tiết thương nghiệp và lưu thông tiền tệ. Ở đây, Lênin đã phát triển tư tưởng chủ nghĩa tư bản nhà nước, ông không chỉ thực sự thừa nhận sự tồn tại của quan hệ hàng hóa, tiền tệ mà nhấn mạnh còn phải biết vận dụng thành thạo quan hệ kinh tế khách quan vì mục đích của chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời làm rõ về mặt nội dung kinh tế của sự kiểm soát và sự kiểm kê của nhà nước chính là nắm lấy thương nghiệp, lưu thông tiền tệ, phải học cách điều tiết sự vận động của đồng tiền và của lưu thông tiền tệ. Đó là mắt xích mà chính quyền vô sản phải đem toàn lực để nắm lấy.
2. Nội dung của chủ nghĩa tư bản nhà nước mà Lênin không ngừng đấu tranh về mặt lý luận và trong thực tiễn để vận dụng thời kỳ chính sách kinh tế mới là phát triển sản xuất đại công nghiệp của chủ nghĩa xã hội, là thực hiện quá trình xã hội hóa sản xuất và lao động như là những điều kiện cần thiết khách quan để chuyển lên xã hội chủ nghĩa, là sự chuẩn bị các điều kiện kinh tế và xã hội cho sự thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế hàng hóa được tổ chức và quản lý có kế hoạch của nhà nước trên quy mô toàn xã hội.
3. Từ sự trình bày quá trình lịch sử hình thành khái niệm tư tưởng của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước có thể cho phép nhận định rằng, chủ nghĩa tư bản nhà nước là một nội dung kinh tế chính trị tổng quát căn bản của thời kỳ quá độ ở những nước có nền kinh tế nhiều thành phần sản xuất nhỏ là phổ biến đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một kiểu mẫu về vận dụng phép biện chứng duy vật lịch sử. Nó cho phép hiểu và vận dụng được quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, nhận thức được quá trình lịch sử tự nhiên không đốt cháy giai đoạn bằng bạo lực phi kinh tế. Mặt khác, việc xác định nội dung như vậy sẽ giúp xây dựng các chính sách của nhà nước xã hội chủ nghĩa, không phải dùng bạo lực đối với các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, mà bằng biện pháp kinh tế, bằng cách hướng vào các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước, bằng việc nhà nước điều tiết vĩ mô và sử dụng những công cụ cực mạnh của nền kinh tế hàng hóa như ngân hàng, tài chính, tiền tệ, tín dụng, giá cả… để kiểm soát và định hướng hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế. Hiểu chủ nghĩa tư bản nhà nước theo đúng ý nghĩa đích thực của nó như đã nêu trên là quá trình thử nghiệm cả trong lý luận và thực tiễn, qua nhiều giai đoạn từ thấp lên cao. Phải hết sức khách quan và tỉnh táo hệ thống hóa lại vấn đề để nhìn chủ nghĩa tư bản nhà nước đúng bản chất của nó.
4. Vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là vừa phát huy tiềm lực bên ngoài để tạo điều kiện khơi dậy tiềm lực bên trong, đồng thời tận dụng tiềm lực bên ngoài, mà trong đó tiềm lực bên trong phải đóng vai trò quyết định. Để phát huy cả tiềm lực bên ngoài và bên trong phải vận dụng các hình thức tư bản nhà nước một cách sáng tạo với phương châm vừa rộng rãi kiên quyết, vừa khéo léo thận trọng.
Đồng thời chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải nắm vững nguyên tắc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước: “các vị trí then chốt của nền kinh tế phải thuộc về chính quyền Xô-viết”. Đó là nguyên tắc đảm bảo định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa về mặt kinh tế.
5. Khi vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, cần nhận rõ trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải chấp nhận có sự trả giá, miễn là sự trả giá đó đạt được mục tiêu, lý tưởng của chúng ta là thông qua con đường của chủ nghĩa tư bản nhà nước để đi lên chủ nghĩa xã hội. Để hạn chế sự trả giá đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải học tập chủ nghĩa tư bản, phải học thật giỏi chủ nghĩa tư bản để bắt kịp và vượt qua chủ nghĩa tư bản, vì vậy vấn đề đào tạo đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới là yếu tố có tính chất quyết định trực tiếp, đảm bảo sự thành công trong việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước.
6. Chủ nghĩa tư bản nhà nước là một trong những giải pháp chủ yếu đi lên chủ nghĩa xã hội chứ không phải là giải pháp duy nhất. Có nghĩa là chúng ta không tuyệt đối hóa chủ nghĩa tư bản nhà nước mà phải thấy hết những mặt hạn chế của nó để khắc phục nhằm đảm bảo vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước đạt hiệu quả cao nhất.
Qua phân tích nội dung trong học thuyết lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước của Lênin, chúng ta có thể nêu lên mấy đặc trưng bản chất – khái niệm chủ nghĩa tư bản nhà nước như sau:
Một là, chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự kích thích yếu tố tư bản chủ nghĩa, sử dụng các lực lượng tư bản chủ nghĩa trong giới hạn cần thiết để làm động lực cho tổ chức và phát triển nền kinh tế theo quỹ đạo chủ nghĩa xã hội hay hướng tới chủ nghĩa xã hội theo đúng nghĩa của nó.
Hai là, mục tiêu cơ bản, trực tiếp nhất của chủ nghĩa tư bản nhà nước là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền đại công nghiệp, là tạo ra điều kiện vật chất đầy đủ cho chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế tiểu nông lạc hậu quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bước vào “phòng chờ” của chủ nghĩa xã hội.
Ba là, khái niệm chủ nghĩa tư bản nhà nước ở đây phải hiểu là trong điều kiện của nhà nước xã hội chủ nghĩa và tự nó nói lên vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa, là thực hiện một trong những phương tiện quan trọng hàng đầu là kiểm kê, kiểm soát, điều hành nền kinh tế – xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản nhà nước là công cụ để liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, khắc phục tình trạng phân tán và đấu tranh chống tính tự phát tiểu tư sản và chủ nghĩa tư bản.
Có thể hiểu một cách vắn tắt: chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự kết hợp giữa nhà nước với các nhà tư bản (trong và ngoài nước) nhằm mục đích sử dụng đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý sản xuất. Đây là hình thức kinh tế do nhà nước kiểm soát điều tiết sự phát triển. Vấn đề khác nhau chỉ là chỗ sự kiểm soát và điều tiết ấy nhằm mục đích gì, có lợi cho ai, trong giới hạn nào, bằng phương pháp gì và khả năng kiểm soát, điều tiết đạt tới mức độ nào.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước là bước trung gian quá độ từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện những nước kém phát triển, đó là những hình thức kinh tế do nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động dưới sự quản lý và điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Về thực chất, chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện chính quyền thuộc giai cấp công nhân và nhân dân lao động là một loại hình kinh tế đặc biệt trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với chủ nghĩa tư bản nhà nước, không tồn tại giai cấp tư sản mà chỉ là các nhà tư bản riêng biệt hoạt động dưới sự điều hành quản lý của nhà nước trong khuôn khổ luật pháp của nhà nước với phạm vi, mức độ và tỷ lệ hợp lý.
Theo định nghĩa hẹp, hay định nghĩa thông thường thì chủ nghĩa tư bản nhà nước chỉ là một trong những thành phần kinh tế nằm trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, khi hiểu chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là một thành phần kinh tế hỗn hợp, một thành phần kinh tế đặc biệt, bao gồm rất nhiều lực lượng kinh tế tham gia, với nhiều hình thức kinh tế cụ thể mà Lênin cũng chỉ mới khái quát nên một hình thức nhất định trong lúc sinh thời.
Theo định nghĩa rộng, về một phương diện nhất định, chủ nghĩa tư bản nhà nước là một chính sách, một công cụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa để lãnh đạo, điều hành, quản lý, kiểm kê, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, nhất là thành phần kinh tế tư nhân. Nói một cách cụ thể, chủ nghĩa tư bản nhà nước là một kiểu kinh tế quá độ, một kiểu tổ chức sản xuất xã hội, là một phương thức, một phương hướng phát triển kinh tế trong điều kiện từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa dưới chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, với nhiều hình thức và biện pháp phong phú.
Những hình thức kinh tế cụ thể chủ nghĩa tư bản nhà nước đã được tổng kết, gồm có: (1) Tô nhượng; (2) Hợp tác xã của những người tiểu nghiệp chủ; (3) Đại lý ủy thác thương mại; (4) Cho tư bản trong nước thuê doanh nghiệp, vùng mỏ, hợp doanh rừng, đất đai; (5) Cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ; (6) Công ty hợp doanh (Công tư hợp doanh) và (7) Áp dụng những công cụ thương nghiệp, ngân hàng, tài chính, tín dụng, giá cả, thị trường, … để kiểm kê, kiểm soát hoạt động kinh tế của các thành phần, đặc biệt là tư nhân.
2- MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC ĐƯỢC VẬN DỤNG BƯỚC ĐẦU Ở LIÊN XÔ VÀ MỘT SỐ NƯỚC
Để đi đến mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, một xã hội không còn chế độ người bóc lột người, có nền kinh tế phát triển cao, mọi thành viên trong xã hội đều được phát triển toàn diện, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bình đẳng, sau khi nắm được chính quyền, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải tập trung mọi cố gắng xây dựng và phát triển nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều hình thức kinh tế có thể đi tới chủ nghĩa xã hội. Song, phải nói rằng chủ nghĩa tư bản nhà nước là một hình thức khá phù hợp. Bởi lẽ, ở hình thức này, trình độ xã hội hóa sản xuất đã đạt rất cao, mặt khác nó là hình thức giúp cho nhà nước xã hội chủ nghĩa tích lũy vốn nhanh, tiếp thu được khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, học hỏi được các phương pháp quản lý kinh tế tiên tiến – nhờ đó mà có thể đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nhà nước, rút ngắn được thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Khác hẳn với chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện chuyên chính tư sản của nhà nước tư bản phát triển, cũng như ở các nước đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là liên minh kinh tế giữa nhà nước giai cấp vô sản với nhà tư sản, nó bị điều tiết bởi nhà nước xã hội chủ nghĩa, chính quyền thuộc giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nó chỉ là một kiểu kinh tế quá độ “bắc những chiếc cầu nhỏ” tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nó là những công cụ để kiểm kê, kiểm soát, sử dụng chủ nghĩa tư bản phục vụ chủ nghĩa xã hội, chứ không phải phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện như vậy đã được chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện đầu tiên ở Liên Xô dưới thời Lênin, bắt đầu từ năm 1921, các hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước do Lênin đề xuất đều được áp dụng. Tuy nhiên, trong điều kiện hoàn cảnh quốc tế lúc đó, nước Nga bị chủ nghĩa đế quốc bao vây kinh tế và cả về chính trị rất mạnh cho nên hình thức tô nhượng, hình thức chủ yếu của chủ nghĩa tư bản nhà nước chưa thực hiện được nhiều. Đến năm 1922, vẫn chưa có một tô nhượng sinh lợi nào trong ngành công nghiệp nặng.
Qua các tư liệu và sự đánh giá cho đến năm 1924, nhìn chung nhờ áp dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước đã mang lại cho nước Nga Xô-viết những tác dụng tích cực nhất định, góp phần làm sống động nền kinh tế nước Nga đã bị suy sụp sau chiến tranh. Nhờ tô nhượng với nước ngoài, nhiều ngành công nghiệp quan trọng, đặc biệt là khai thác dầu đã phát triển khá, nhiều kinh nghiệm tiên tiến với kỹ thuật, thiết bị khá hiện đại của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa đã được đưa vào quá trình sản xuất mang lại hiệu quả cao. Tô nhượng cùng các công ty hợp doanh đã góp phần phát triển sản xuất hàng hóa, tăng thêm dự trữ ngoại tệ cho đất nước, mở rộng quan hệ liên kết kinh tế, liên doanh trong các lĩnh vực đầu tư sản xuất, chuyển giao công nghệ tiên tiến và phát triển ngoại thương với các nước tư bản phương tây. Thông qua các hoạt động của công ty hợp doanh, nhưng người cộng sản Nga còn học được cách buôn bán từ những nhà tư bản. Hoạt động của các doanh nghiệp cho thuê, các doanh nghiệp hỗn hợp đã góp phần giúp nhà nước Xô-viết duy trì sự hoạt động sản xuất bình thường ở các cơ sở kinh tế, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, việc làm cho người lao động. Hình thức đại lý thương nghiệp và các hợp tác xã tư bản nhà nước trong các lĩnh vực sản xuất, tín dụng và tiêu thụ đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh nhanh quá trình trao đổi và lưu thông hàng hóa tiền tệ, làm sống động nền sản xuất hàng hóa nhỏ, qua các cải biến những người tiểu nông, nối liền quan hệ công – nông nghiệp thành thị và nông thôn…
Song, so với sự mong muốn và mục tiêu đặt ra từ ban đầu của Lênin thì kết quả thực hành chế độ tư bản nhà nước vẫn còn thấp. Sự hợp tác, đầu tư của tư bản nước ngoài vào Liên Xô không đạt như mong muốn. Trong những năm 1923 – 1924 (những năm cuối của Lênin), tỷ trọng của kinh tế tư bản nhà nước trong tổng sản phẩm của nhà nước chiếm có 1%. Năm 1923, các doanh nghiệp tô nhượng mới sản xuất được khối lượng sản phẩm trị giá 35,1 triệu rúp. Tuy nhiên, kết quả lớn nhất là nhờ chính sách kinh tế mới, trong đó áp dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là cốt lõi, mà chính quyền Xô-viết đã giữ được những vị trí vững chắc trong nông nghiệp và có khả năng tiến lên được. Nông dân vừa lòng, công nghiệp cũng như thương nghiệp hồi sinh phát triển.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, một số nước dân chủ nhân dân đã thi hành chế độ chủ nghĩa tư bản nhà nước, với tư cách là một phương pháp cải tạo hòa bình giai cấp tư sản, trong đó có cả Việt Nam. Nổi bật là Cộng hòa Dân chủ Đức (trước đây) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã có nhiều kinh nghiệm và thành công trong việc áp dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, mặc dù quan điểm ở các nước này không hoàn toàn giống nhau.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng tiến hành cải tạo hòa bình giai cấp tư sản dân tộc dưới nhiều hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Song, quá trình này chỉ thực hiện trong những năm 1950 và bị đứt đoạn trong những năm sau đó, cho đến khi Trung Quốc bắt đầu thực hiện chính sách “mở cửa, cải cách” vào nửa cuối những năm 1970, chủ nghĩa tư bản nhà nước mới được khôi phục lại và phát triển dưới nhiều hình thức hoàn toàn khác với quan điểm trước đó. Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang bản sắc Trung Quốc, nhà nước sử dụng công cụ thị trường để thực hành điều tiết vĩ mô. Hai công cụ mạnh nhất được thi hành là chính sách tiền tệ (bao gồm cả chính sách tỷ giá hối đoái) và chính sách cơ cấu (bao gồm cả cơ cấu vùng). Cải cách khu vực kinh tế quốc doanh theo hướng thị trường. Thiết lập các đặc khu kinh tế và thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào đó. Chủ trương của Nhà nước ở đây là tạo ra xung lực phát triển cho đất nước bằng vốn nước ngoài, đồng thời kiểm soát được sự phát triển đó. Giải phóng được khu vực kinh tế nông thôn bằng chế độ khoán hộ và phát triển các doanh nghiệp Hương trấn.
Cần phải nhấn mạnh rằng, sau khi nhiều nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, bọn bồi bút của giai cấp tư sản không ngừng công kích và phản bác chủ nghĩa Mác – Lênin trong đó có NEP và mô hình về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Thậm chí có không ít những chuyên gia một thời đã từng là của chủ nghĩa xã hội, nay cũng trở cờ phản lại chính những lý tưởng mà họ theo đuổi. Không ít người trong số họ cho rằng NEP là một chuỗi các biện pháp kế tiếp nhau để ra khỏi khủng hoảng, các biện pháp đó được đưa ra là do các điều kiện khách quan bắt buộc chứ không phải do tư tưởng nào đó của ai… rằng NEP như một “thứ thuốc”, như một phương tiện cho phép thoát ra khỏi tình trạng nặng nề thời bấy giờ… Người ta đã cố tình hạ thấp giá trị khoa học của NEP, phủ định ý nghĩa quốc tế của vấn đề này. May thay lịch sử rất công bằng – Thực tiễn phát triển ở Việt Nam và Trung Quốc những năm vừa qua đã minh chứng cho giá trị bất tử của NEP.
3- TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ TƯ BẢN NHÀ NƯỚC
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điệu kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong di sản tư tưởng vĩ đại của Bác, nhận thức và vận dụng “kinh tế tư bản nhà nước” vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là một bước phát triển sáng tạo.
Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác, một nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển cao không cần các giai đoạn phát triển trung gian. Những điều kiện về vật chất, kinh tế – kỹ thuật, tổ chức và văn hóa – xã hội cho bước chuyển đó đã hình thành và chín muồi trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở Việt Nam, thông thường khi nói đến chủ nghĩa xã hội, chúng ta thường nhấn mạnh, đặc trưng cơ bản của xã hội mới là nền đại công nghiệp cơ khí. Cách nói đó không sai, nhưng không đầy đủ và quá đơn giản. Còn nếu hiểu đại công nghiệp chỉ là việc xây dựng nên các doanh nghiệp lớn là một cách hiểu phiến diện, nghèo nàn. Một nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa không chỉ có nền đại công nghiệp cơ khí mà còn là toàn bộ những mối liên hệ kinh tế và những quan hệ tổ chức của toàn bộ nền kinh tế quốc dân do nó tạo ra. Đó là một nền sản xuất công nghiệp có tổ chức, có kế hoạch, gắn liền với sự điều tiết của nhà nước, phục tùng nhà nước, với toàn bộ hệ thống kinh tế quy mô lớn, và một hệ thống các cơ chế, các công cụ điều tiết, các tổ chức kinh tế như ngân hàng, hệ thống phân phối thu nhập quốc dân, bộ máy quản lý. Nghĩa là toàn bộ những thể chế vật chất và tổ chức của một nền kinh tế hiện đại. Tất cả những cái đó hợp thành những điều kiện vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội.
Nói một cách vắn tắt, muốn có chủ nghĩa xã hội cần phải có những điều kiện căn bản:
1. Phải có một cơ sở vật chất, kỹ thuật được xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất của khoa học hiện đại.
2. Phải có hệ thống tổ chức nhà nước hoạt động quản lý điều tiết nền kinh tế dựa trên cơ sở pháp luật, có kế hoạch mang tính chiến lược (không phải là mô hình nhà nước tập trung quan liêu bao cấp).
3. Giai cấp công nhân cùng với tầng lớp trí thức của mình là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ và xu thế phát triển của thời đại phải là giai cấp lãnh đạo.
Sau khi làm cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân do giai cấp công nhân và nhân dân lao động lãnh đạo thành công, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã giành được chính quyền, chúng ta đã có tiền đề chính trị để đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Song, cho đến nay, về cơ bản đất nước ta vẫn còn ở trình độ của một nước tiểu nông. Nền kinh tế của nước ta hiện có tới 80% dân số sống và làm việc ở khu vực nông thôn, với mật độ dân số cực kỳ cao trên đất nông nghiệp (900 người/1km2 đất nông nghiệp) điều kiện kỹ thuật canh tác lạc hậu. Việt Nam những năm trước đổi mới được liệt vào danh sách là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ với máy móc thiết bị lạc hậu (thành phố Hồ Chí Minh sau gần 20 năm mở cửa, các doanh nghiệp được trang bị hiện đại chỉ chiếm khoảng 30%). Trình độ tổ chức và quản lý nền kinh tế phân tán, thiếu kế hoạch thống nhất. Vì vậy, một khi trình độ phát triển lực lượng sản xuất của nền sản xuất nhỏ chưa cho phép triển khai đầy đủ hệ thống sản xuất có kế hoạch, thì sự hình thành chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới các hình thức khác nhau là một bước thụt lùi hợp lý, một cách thích nghi của các quan hệ sản xuất mới với trình độ phát triển hiện có của lực lượng sản xuất và năng lực quản lý.
Là nhà ái quốc vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu của toàn Đảng và toàn dân tộc, người đầu tiên tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, ngay từ những năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan điểm tư tưởng hàm chứa sự vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước của Lênin vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta sau khi kháng chiến thành công.
Ngay từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hoan nghênh tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta, nhưng trên nguyên tắc hai bên cùng có lợi và bình đẳng chứ không phải vào để ràng buộc áp chế. Khi trả lời phỏng vấn một nhà báo nước ngoài về thái độ của Việt Nam đối với tư bản ngoại quốc sau khi giành độc lập, Hồ Chủ tịch nói: Sau 80 năm bị thực dân Pháp vơ vét, bóc lột và mấy năm bị thực dân Pháp tàn phá, cướp bóc, nước Việt Nam độc lập cần phải ra sức kiến thiết. Bất kỳ nước nào (gồm cả nước Pháp) thật thà muốn đưa tư bản đến kinh doanh ở Việt Nam với mục đích làm lợi cho cả hai bên thì Việt Nam sẽ hoan nghênh. Bất kỳ nước nào (gồm cả nước Pháp) mong đưa tư bản đến để ràng buộc, áp chế, Việt Nam sẽ kiên quyết cự tuyệt.
Năm 1953, khi nói về các thành phần kinh tế đang tồn tại ở nước ta và trong chế độ xã hội mới, Hồ Chủ tịch đã nói đến sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi nó là thành phần mang tính chất nửa xã hội chủ nghĩa. Tháng 5 năm 1953, tờ báo “Cứu quốc” (số 2344, ngày 25-5-1953), với nhan đề “Thành phần kinh tế ở nước ta”, Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ: “kinh tế ở nước ta hiện có những thành phần sau:
– Kinh tế địa chủ phong kiến, bóc lột địa tô.
– Kinh tế quốc doanh có tính chất xã hội chủ nghĩa.
– Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa.
– Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghiệp, họ thường tự túc, ít có gì bán mà cũng ít khi mua gì. Đó là một thứ kinh tế lạc hậu.
– Kinh tế tư bản tư nhân. Họ bóc lột công nhân nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế.
– Kinh tế tư bản quốc gia là Nhà nước hùn vốn với tư nhân để kinh doanh và do Nhà nước lãnh đạo. Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản. Tư bản của nhà nước là chủ nghĩa xã hội.
Tháng 9 năm 1953, trong một bài báo với nhan đề “Dân chủ mới” cũng đăng trên báo “Cứu quốc” (số 2118, ngày 7-9-1953), Hồ Chủ tịch đã chỉ ra 5 thành phần kinh tế tồn tại trong chế độ mới. Người viết:
“Trong chế độ dân chủ mới có năm loại hình kinh tế khác nhau: Kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, cá thể, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo…
Đảng lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực hiện dân chủ mới, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội”.
Quan điểm tư tưởng của Bác Hồ vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước của Lênin có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, mang tính thời sự cấp thiết. Ngày nay chúng ta có thể coi đó là chủ trương, là phương châm chỉ đạo chiến lược của Bác trong việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước vào Việt Nam. Quan điểm trên đây thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự hiểu biết sâu rộng và thiên tài của Bác. Rất tiếc, sau chiến tranh những nhà lãnh đạo Việt Nam đã không nhận thức và vận dụng đúng tinh thần này của Bác. Chúng ta đã tự đánh mất đi những cơ hội quý giá để phát triển đất nước sau chiến tranh. Sau hơn 10 năm cải tạo nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa và tập trung quan liêu, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra rằng: “Quá trình từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển hóa từ kinh tế còn nhiều tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh tế hàng hóa. Chúng ta quản lý có kế hoạch một nền kinh tế sản xuất hàng hóa với những đặc điểm của thời kỳ quá độ. Việc sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng hóa tiền tệ trong kế hoạch nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan”. Từ đó, Đảng ta đã đưa ra những quan điểm đổi mới hết sức quan trọng là thực hiện nhất quán cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất, coi đó là chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ nền sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế bảo đảm cho mọi người tự do làm ăn theo pháp luật. Vì vậy, các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất mặc dù có bản chất riêng, nhưng trong hoạt động sản xuất kinh doanh không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết nhau. Hướng kinh tế tư nhân từng bước vào kinh tế hợp tác xã… và kinh tế tư bản nhà nước với nhiều hình thức nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Nghị quyết Đại hội VII đã vạch rõ nét hơn mô hình đi lên chủ nghĩa xã hội là: xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
Tinh thần cơ bản của Lênin và Bác Hồ về chủ nghĩa tư bản nhà nước đã được Đại hội VII của Đảng xác định rất rõ: Chúng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là tư tưởng của Lênin về chính sách kinh tế mới, về chủ nghĩa tư bản nhà nước với nhiều hình thức đa dạng, phong phú phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Sự khẳng định này của Đảng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, thừa nhận trong sự nghiệp đổi mới, mở cửa hội nhập, về thực chất là chúng ta đang vận dụng sáng tạo học thuyết của Lênin về chính sách kinh tế mới, về chủ nghĩa tư bản nhà nước vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, nhờ đó đã đưa đất nước ta từng bước vượt qua khủng hoảng và phát triển. Điều đó đã nói lên rằng chủ nghĩa tư bản nhà nước là vấn đề không những có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu rộng, đây chính là một trong những điều kiện đưa Việt Nam từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tiếp theo đó, các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1-7-1996) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (19-4-2001), Đại hội toàn quốc lần thứ X tháng (04-2006) – Đảng ta chủ trương sử dụng thành phần kinh tế tư bản nhà nước một cách đa dạng, phong phú v.v…
Trong giai đoạn này, chúng ta phấn đấu đuổi kịp chủ nghĩa tư bản về khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Mặt khác, như Hồ Chủ tịch đã nói, vì: “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới chưa từng có tiền lệ trong lịch sử dân tộc, chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩa và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm”.
Điều kiện tiên quyết để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, tiến hành xây dựng được cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta, được Đảng và Nhà nước xác định, trước hết phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà nội dung cơ bản là thực hiện một chiến lược phát triển với cơ cấu hợp lý, tiếp thu nhanh chóng, có hiệu quả các công nghệ tiên tiến của thế giới. Đồng thời phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển tất cả các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh trên cơ sở phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định tính thống nhất của thị trường trong nước và gắn kết với thị trường thế giới, thực hiện chính sách đổi mới mở cửa cả bên trong và bên ngoài, tôn trọng và vận dụng đầy đủ các quy luật khách quan của kinh tế hàng hóa.
Nhà nước phải đổi mới và nâng cao chất lượng kế hoạch hóa ở tầm vĩ mô, thực hiện sự kiểm kê, kiểm soát đối với các hoạt động kinh tế. Xây dựng chính sách tài chính quốc gia và các chính sách tín dụng, giá cả, tiền tệ, tiền lương, khuyết khích hạch toán kinh doanh, xây dựng luật kinh tế, ban hành chính sách kinh tế đối ngoại, tăng cường các quan hệ trao đổi buôn bán và hợp doanh trong sản xuất, phê chuẩn và ban hành luật đầu tư nước ngoài, luật công ty, luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật phá sản các doanh nghiệp, luật đất đai… Đặc biệt là thừa nhận và cho phép phát triển kinh tế tư bản tư nhân. Một loại hình chiến lược trong vận dụng mô hình tư bản nhà nước và việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân.
Trong chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 1990-2000, Chính phủ nêu rõ: “Các công ty tư nhân ở nước ta hoạt động dưới sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước, có quan hệ mức độ khác nhau với kinh tế quốc doanh, ít nhiều mang tính chất tư bản nhà nước. Nhà nước có thể góp vốn cổ phần hoặc cho thuê tài sản, vừa hỗ trợ cho doanh nghiệp tư nhân hoạt động, vừa tạo điều kiện tăng thêm sự kiểm soát và tích lũy của Nhà nước trong doanh nghiệp tư nhân”.
Như vậy có thể xác định tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế nằm trong phạm trù của chủ nghĩa tư bản nhà nước hiểu theo nghĩa rộng. Vì kinh tế tư bản tư nhân trong điều kiện mới không giống về bản chất với tư bản tư nhân trong điều kiện dưới chế độ tư bản chủ nghĩa. Họ được Nhà nước xã hội chủ nghĩa cho phép ra đời dựa trên cơ sở luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật doanh nghiệp và các chủ trương chính sách của Nhà nước. Đồng thời chịu sự quản lý trực tiếp của các cơ quan quản lý Nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng pháp luật… Quá trình phát triển kinh tế tư bản tư nhân là quá trình gắn bó, kết hợp chặt chẽ với Nhà nước, không có sự giúp đỡ, hỗ trợ của nhà nước kinh tế tư bản tư nhân không thể nào phát triển được. Mặt khác, Nhà nước nếu không phát huy tốt thành phần này, để họ đóng góp vào nền kinh tế thì sự phát triển của nhà nước cũng sẽ rất khó khăn. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy thời kỳ cải tạo tư sản, ta đã dẹp bỏ thành phần này dưới nhiều hình thức như công tư hợp doanh, hợp tác kinh doanh… về thực chất là từng bước thực hiện chủ trương quốc doanh hóa, quốc hữu hóa tư bản tư nhân, hậu quả là đã làm cho nền kinh tế bị khủng hoảng trầm trọng. Nguyên nhân chính do chúng ta đã không đánh giá đúng bản chất, vai trò, vị trí của thành phần này trong nền kinh tế nên có nhiều định kiến.
Cho phép phát triển nhiều thành phần kinh tế, khẳng định kinh tế tư bản tư nhân là người bạn đồng hành đáng tin cậy của kinh tế nhà nước trên bước đường khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, mở cửa. Đây chính là bước vận dụng sáng tạo mô hình tư bản nhà nước ở Việt Nam.
Ngay từ tháng 5-1953, trên tờ “Cứu quốc”, số 2344 ngày 25-5-1953 với nhan đề: “Thành phần kinh tế ở nước ta” Hồ Chủ tịch đã chỉ ra các thành phần kinh tế. Khi đề cập đến kinh tế tư bản tư nhân, Bác chỉ rõ: “kinh tế tư bản tư nhân, họ bóc lột công nhân nhưng họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế”. Đó là hai mặt trái ngược nhau, vừa bóc lột công nhân và vừa góp phần xây dựng kinh tế, đó là tính chất đặc trưng của kinh tế tư bản tư nhân.
Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế tư bản tư nhân cũng cần phải được “mổ xẻ”. Đó là vấn đề “bóc lột”.
Chúng ta phải nhìn nhận một thực tế, thừa nhận sự tồn tại của tư bản tư nhân tức thừa nhận ở chừng mực nào đó sự bóc lột của họ đối với công nhân. Lênin cho rằng sự tồn tại đó là không thể tránh khỏi. Đó là cái giá phải trả để đưa nền kinh tế tiểu nông quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng tính chất bóc lột ở đây không giống như sự bóc lột tư bản tư nhân của chế độ tư bản chủ nghĩa. Nó bị điều tiết của luật Lao động và luật Công đoàn, cũng như các luật và văn bản pháp lý có liên quan. Như vậy, tính chất bóc lột đã thay đổi do sự điều tiết của Nhà nước trong quá trình phát triển. Sự điều tiết phân phối ở đây cho kết quả: Tư bản tư nhân có lợi nhuận, Nhà nước và công nhân cũng có lợi. Sự hài hòa 3 lợi ích đã hạn chế tối đa tranh chấp chủ thợ, cũng như hạn chế tối đa sự bóc lột. Ở đây, vai trò công đoàn là cực kỳ quan trọng, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng cho công nhân, lợi ích Nhà nước vừa tôn trọng lợi ích hợp pháp của chủ đầu tư.
Thực tiễn phát triển tại khu chế xuất, khu công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh đã khẳng định chủ trương phát triển kinh tế tư bản tư nhân là hoàn toàn đúng. Hiện nay tại các khu công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh có trên 110 ngàn lao động gồm 364 doanh nghiệp nước ngoài với tổng vốn đầu tư 1,420.92 tỉ USD và 382 doanh nghiệp trong nước với tổng vốn đầu tư 9,140.26 tỉ VNĐ mà 2/3 là tư bản tư nhân, vốn bình quân 38 tỉ VNĐ. Có doanh nghiệp vốn đầu tư lên đến 600 tỉ. Trong đó có trên 26 doanh nghiệp Việt kiều. Trong hơn 200 doanh nghiệp tư bản tư nhân trong các khu chế xuất, khu công nghiệp có không ít đảng viên làm giám đốc hoặc trong Ban giám đốc. Nhiều doanh nghiệp đã có chi bộ.
Cùng với phát triển tư bản tư nhân đã nảy sinh vấn đề đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân. Đây là vấn đề nhạy cảm, nhưng là vấn đề có ý nghĩa bước ngoặc trong chiến lược chuyển hướng nền kinh tế. Tuy chậm nhưng đại hội X của Đảng đã nhất trí chủ trương cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân.
Hiện nay, số lượng đảng viên từ các đơn vị nhà nước tham gia kinh tế tư bản tư nhân chiếm tỷ lệ cao trong khu chế xuất, khu công nghiệp, đa số họ là giám đốc hoặc phó giám đốc của doanh nghiệp và phần lớn các đơn vị này làm ăn có hiệu quả, nghiêm chỉnh chấp hành các chủ trương, chính sách của Nhà nước. Bởi lẽ họ không chỉ hoạt động theo luật pháp mà còn có sự kiểm tra giám sát với tư cách là người đảng viên theo Điều lệ Đảng. Một điều mang tính nguyên tắc là Đảng muốn lãnh đạo các thành phần kinh tế, ngoài việc chúng ta phải có chủ trương chính sách đúng đắn để phát huy từng thành phần kinh tế, mỗi thành phần kinh tế cần xây dựng mạnh mẽ hệ thống chính trị, trong đó nòng cốt là phải có tổ chức cơ sở Đảng, phải phát triển đảng viên đông đảo ở từng thành phần trong đó có thành phần tư bản tư nhân.
Như vậy, việc đảng viên tham gia vào các đơn vị kinh tế tư bản tư nhân là một nhu cầu cần thiết và quan trọng nhằm góp phần xây dựng Đảng và đưa thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đúng đường lối chủ trương của Nhà nước. Đảng viên giữ vai trò giám đốc hoặc phó giám đốc doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự lãnh đạo của Đảng ở các đơn vị kinh tế tư bản tư nhân. Bởi lẽ những đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân ngoài lợi ích, họ sẽ góp phần xây dựng doanh nghiệp tư bản tư nhân đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với các thành phần kinh tế khác đưa sự nghiệp đổi mới đến thành công.
Các quan điểm chủ trương đổi mới vừa nêu trên, về thực chất là xác định lại một cách hiện thực theo đúng bản chất và nội dung kinh tế căn bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khác hẳn với những nội dung xác định trước đây, trong đó cơ bản là nội dung kinh tế, chính trị tổng quát của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đó là chính sách kinh tế mới của Lênin được vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời đại ngày nay. Nội dung đó được thể hiện thông qua các chính sách, biện pháp, phương thức, con đường thực hiện về mặt kinh tế đối với các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, có thể nói học thuyết của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa tư bản nhà nước ngày càng có giá trị hiện thực đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong suốt thời kỳ quá độ. Đó vừa là cơ sở lý luận và thực tiễn hành động của sự nghiệp đổi mới ở nước ta do Đảng lãnh đạo trong giai đoạn hiện nay.
Bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, thời kỳ bình thường hóa hoàn toàn quan hệ Việt-Mỹ và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế quốc tế, vấn đề vận dụng tư tưởng NEP và mô hình tư bản nhà nước của Lênin, quan điểm của Bác Hồ cần phải được đặc biệt chú trọng hơn nữa. Mở cửa hội nhập, đa dạng hóa các loại hình tư bản nhà nước, thu hút nhiều hơn nữa vốn, công nghệ vào quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội nhưng phải bảo đảm các điều kiện:
– Phát triển sâu rộng mô hình tư bản nhà nước và các loại hình sở hữu khác phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước ta, phù hợp với các cam kết và luật pháp quốc tế mà Việt Nam tham gia phê chuẩn.
– Phát triển mô hình tư bản nhà nước trên cơ sở củng cố vững chắc thể chế chính trị – xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với củng cố và tăng cường sức mạnh của thể chế chính trị. Bất kỳ sự vận dụng nào cũng phải nhằm giữ vững và củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi và gắn liền với công bằng và tiến bộ xã hội.
– Phát triển mô hình tư bản nhà nước và đa dạng hóa các loại hình sở hữu phải góp phần vào việc củng cố môi trường đầu tư của Việt Nam. Gắn Việt Nam với các nước, tạo điều kiện để Việt Nam thu hút tốt hơn nữa các nguồn đầu tư nước ngoài, khai thác có hiệu quả thị trường quốc tế, tranh thủ viện trợ của các nước, khẳng định vị thế và uy tín ngày càng tăng của Việt Nam trên trường quốc tế.
Tóm lại cần phải khẳng định, chúng ta vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là nhằm nâng cao tiềm lực của nền kinh tế. Đưa Việt Nam phát triển phù hợp với quy luật khách quan, trên cơ sở khai thác tốt những lợi thế vốn có của đất nước và sức mạnh chung của thời đại. Củng cố thế và lực của nước ta trên trường quốc tế, đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Posted by: admin | October 24, 2008

Chương 2

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN Trước đại hội ĐẠI BIỂU
toàn quốc lần thứ VI (1986)

Việt Nam đang ở trong quá trình từ nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ lên đi chủ nghĩa xã hội. Đó là đặc điểm quy định thực chất, nội dung bước đi và những phương pháp chủ yếu của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, mà hiện nay chúng ta mới ở giai đoạn đầu. Vì vậy, về lý luận cũng như trên thực tiễn, vấn đề là ở chỗ phải tìm ra cho được những phương pháp đúng, những hình thức kinh tế – xã hội phù hợp nhất so với điều kiện phát triển lịch sử của đất nước. Khai thác tất cả những lợi thế, những nguồn lực của các ngành, các cấp, của từng địa phương để giải phóng sức sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất bước đầu cho thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Với tinh thần ấy, thành phố Hồ Chí Minh đang thử nghiệm mô hình chủ nghĩa tư bản nhà nước như một hình thức kinh tế quá độ để kết hợp cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Tuy còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng bước đầu đã mở ra một hướng đi mới hứa hẹn nhiều triển vọng tốt đẹp. Để tìm hiểu vấn đề này phải bắt đầu xem xét ở cả góc độ lý luận và thực tiễn quá trình vận dụng trên đây ở thành phố Hồ Chí Minh – Trung tâm kinh tế quan trọng của cả nước.
1- TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ TỒN TẠI NHIỀU THÀNH PHẦN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
Từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ. Nền kinh tế của thời kỳ quá độ ra đời sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, có đặc điểm nổi bật là nền kinh tế nhiều thành phần.
Thành phần kinh tế là một loại hình kinh tế xã hội khách quan ra đời và mất đi trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định, đó là những loại hình kinh tế – xã hội đã ra đời nhưng chưa phát triển đầy đủ, hoặc đã bị thủ tiêu dần nhưng vẫn còn tồn tại.
Tính chất quá độ của nền kinh tế của thời kỳ quá độ thể hiện đặc biệt rõ trong kết cấu kinh tế – xã hội chưa thuần nhất, bao gồm cả những yếu tố của thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa đã bị đánh bại nhưng chưa bị thủ tiêu hẳn và những yếu tố của thành phần kinh tế – xã hội chủ nghĩa mới ra đời còn non yếu cùng tồn tại trong mối liên hệ tác động qua lại, tạo thành các tế bào kinh tế – xã hội hết sức phức tạp, trong đó mỗi hình thức quan hệ sản xuất được biểu hiện dưới dạng một hay nhiều thành phần kinh tế riêng biệt và một lực lượng xã hội gắn liền với đặc trưng của hình thức sở hữu ấy.
Trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ, thông thường ở mỗi nước gồm 3 thành phần kinh tế chủ yếu, với 3 giai cấp hay lực lượng xã hội đặc trưng:
Một là, sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân và thợ thủ công có thể dựa trên cơ sở tư hữu về tư liệu sản xuất và lao động của người sở hữu.
Hai là, tư bản chủ nghĩa của tư sản nhỏ và tư sản bậc trung dựa trên cơ sở tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê.
Ba là, xã hội chủ nghĩa mới ra đời dựa trên chế độ công hữu hóa tập thể hóa về tư liệu sản xuất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Sự tồn tại của ba thành phần kinh tế trên mang tính chất phổ biến ở tất cả các nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nó hoàn toàn không phụ thuộc vào đặc điểm phát triển lịch sử của mỗi nước, cũng không phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở thời điểm bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cơ sở khách quan của thời kỳ quá độ bắt nguồn từ bản chất của các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không thể ra ra đời trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ tính chất triệt để của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về mặt kinh tế xã hội. Mặt khác, các quan hệ sản xuất phi xã hội chủ nghĩa không thể thủ tiêu triệt để ngay mà nó còn cơ sở kinh tế để tồn tại. Chúng ta chỉ có thể thu hẹp dần mức độ và phạm vi hoạt động của nó trên cơ sở củng cố và phát triển hoàn thiện nền sản xuất xã hội chủ nghĩa và con người mới xã hội chủ nghĩa.
Sự khác nhau giữa các nước có đặc điểm phát triển lịch sử khác nhau – mà chúng ta phải xét đến là vai trò và số lượng của các thành phần kinh tế. Đối với những nước chưa phát triển hoặc mới phát triển chủ nghĩa tư bản thì cơ sở vật chất – những tiền đề kinh tế xã hội để chuyển lên chủ nghĩa xã hội còn rất thấp kém. Ở những nước này, sự chi phối của sản xuất nhỏ, tư sản vừa và nhỏ, và ảnh hưởng của nó đối với thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa là hết sức to lớn. Vì vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải đặc biệt coi trọng việc tìm ra những hình thức quá độ phù hợp để thu hút những người tiểu sản xuất, tư sản vừa và nhỏ vào công cuộc phát triển lực lượng sản xuất, nhằm tạo ra những cơ sở vật chất, kỹ thuật để chuyển lên chủ nghĩa xã hội.
Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với tất cả các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là những nước có xuất phát điểm thấp – nền kinh tế tiểu nông.
2- SỰ CẦN THIẾT SỬ DỤNG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đặc điểm sự phát triển lịch sử của nền kinh tế Sài Gòn trước đây:
Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế – văn hóa – khoa học – kỹ thuật và giao dịch quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cả nước, nhất là đối với 15 tỉnh B2 cũ. Với diện tích tự nhiên chỉ bằng 0,6 % diện tích cả nước và dân số bằng 0,4 % dân số cả nước nhưng đã chiếm ¼ năng lực sản xuất công nghiệp với tổng giá trị bằng 26% sản lượng công nghiệp của cả nước.
Sự phát triển lịch sử của nền kinh tế miền Nam tập trung chủ yếu ở Sài Gòn với tư cách là thủ đô của “Việt Nam Cộng hòa”. Nơi này đã từng tập trung 70% xí nghiệp công nghiệp, chiếm 80% năng lực sản xuất công nghiệp toàn miền Nam với 12.680 xí nghiệp (chưa kể trên 20 vạn cơ sở tiểu thủ công nghiệp) trong đó có 761 xí nghiệp công nghiệp lớn và vừa gồm 72.815 lao động. Có thể nói Sài Gòn là xương sống của nền kinh tế miền Nam tư bản chủ nghĩa.
Nét nổi bật trong sự phát triển lịch sử công nghiệp tư bản chủ nghĩa ở Sài Gòn là sự tồn tại và hoạt động của nó dựa trên cơ sở liên kết kinh tế quốc tế tư bản chủ nghĩa. Trong cả một hệ thống dây chuyền sản xuất tư bản hiện đại thì kinh tế Sài Gòn chỉ là khâu chuyên môn hóa cuối cùng của quá trình sản xuất, chủ yếu sản xuất tư liệu sinh hoạt phục vụ trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng của đời sống xã hội kiểu thực dân mới và chiến tranh. Ở đây, từng xí nghiệp cá biệt được trang bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất hiện đại, trình độ sản xuất chuyên môn hóa cao với một năng lực sản xuất đáng kể. Chẳng hạn các xí nghiệp công nghiệp dệt có khả năng sản xuất 250 triệu mét vải một năm, hai hãng thuốc lá có năng lực sản xuất hàng tỉ bao một năm. Do đặc điểm của hệ thống kinh tế quốc tế tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế Sài Gòn thời ấy cũng mất cân đối hết sức nghiêm trọng, sự mất cân đối này thể hiện rõ cả trong cơ cấu xí nghiệp, cơ cấu ngành và cơ cấu liên ngành. Chẳng hạn trong ngành dệt năng lực dệt khá cao, trong khi đó thì thiếu năng lực kéo sợi và hoàn toàn không có cơ sở nguyên liệu dệt trong nước. Ngành sản xuất giấy thì không có cơ sở sản xuất bột giấy… các ngành công nghiệp then chốt quyết định thì khả năng tiến bộ kỹ thuật hầu như chưa phát triển. Về cơ cấu nhóm sản phẩm, trong khi nhóm A, chủ yếu lắp ráp và sửa chữa sản xuất phụ tùng lẻ chiếm 27% tỉ trọng công nghiệp thì nhóm B sản xuất tư liệu sinh hoạt chiếm 43%… việc tổ chức sản xuất theo hướng chuyên môn hóa dựa trên cơ sở hợp tác liên kết kinh tế quốc tế tư bản chủ nghĩa của chế độ Sài Gòn đã phát huy được tác dụng và sức mạnh của nó đối với kinh tế miền Nam. Khi nền kinh tế này chuyển sang giai đoạn phát triển mới – giai đoạn giai cấp vô sản nắm chính quyền, buộc Nhà nước phải có những điều chỉnh thích hợp. Nếu Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong khi phá vỡ cơ chế kinh tế cũ mà không tính đến những bước đi quá độ, thận trọng để chuyển dần sang cơ chế kinh tế mới phù hợp với yêu cầu kinh tế kỹ thuật của nó, thì nền kinh tế Sài Gòn tất yếu dẫn đến sự suy sụp vì không đủ yếu tố kinh tế để duy trì sản xuất. Có thể nói, sức mạnh của nền kinh tế Sài Gòn không nằm ở từng xí nghiệp cá biệt mà nằm trong mối quan hệ tổng thể của sự liên kết kinh tế giữa Sài Gòn với các tỉnh miền Nam và với thị trường quốc tế.
Một đặc trưng điển hình đặc thù khác của nền kinh tế Sài Gòn là nền kinh tế tư bản thương mại. Tính chất thương mại dịch vụ thể hiện hết sức rõ rệt. Với nền kinh tế miền Nam có tổng thu nhập kinh tế quốc dân từ 2 tỉ đến 3 tỉ USD (năm 1973 đạt cao nhất 2.982 triệu USD). Tỷ lệ xuất/nhập bình quân từ 1965 – 1975 là 5,22%, vậy mà trên địa bàn thành phố tập trung 31 ngân hàng thương mại, 1687 công ty thương mại, trong đó có 800 công ty xuất nhập khẩu (xuất khẩu năm cao nhất năm 1974 đạt 76,7 triệu USD) 420 công ty dịch vụ, 366.000 hộ kinh doanh có môn bài trong các ngành dịch vụ ăn uống và khách sạn, 250.000 hộ buôn bán nhiều thứ khác nhau… Sự phát triển không bình thường của chủ nghĩa tư bản thương nghiệp so với khả năng phát triển của sản xuất bắt nguồn từ hai yêu cầu: một là phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng trong nước; hai là phục vụ cho yêu cầu sinh hoạt của trên nửa triệu quân đội Mỹ và trên 1 triệu quân đội tay sai được nuôi bằng chí phí và viện trợ của Mỹ. Ở đây, cần chú ý rằng hoạt động của tư bản thương nghiệp ở Sài Gòn là đầu mối lưu thông hàng hóa đối với thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Đối với các tỉnh miền Nam, mối quan hệ kinh tế sản xuất kinh doanh đó được hình thành hàng trăm năm bằng một mạng lưới hết sức năng động, phức tạp và có hiệu quả, có khả năng chi phối, và định hướng sản xuất của các tỉnh miền Nam, mối quan hệ này là bảo đảm những điều kiện kinh tế, cho sự tồn tại và hoạt động của chế độ Sài Gòn. Nhân tố có ý nghĩa quyết định khác bảo đảm cho sự duy trì và phát triển của nền kinh tế ở miền Nam là chế độ viện trợ kinh tế – kỹ thuật từ bên ngoài. Từ năm 1956 đến năm 1975, tổng số viện trợ kinh tế và tiền đô la để phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của miền Nam, chủ yếu cho Sài Gòn là 350 tỷ USD (chưa kể ngoại tệ chuyển ngân lậu thực chi của quân đội Mỹ, chư hầu và số vật tư thiết bị kỹ thuật, tiền chi phí cho chiến tranh bị rút ra phục vụ cho hoạt động kinh tế – theo ước tính của Liên Xô thì chi phí của Mỹ cho chiến tranh Việt Nam là 700 tỉ USD, gồm 30 tỉ thương mại và 670 tỉ chiến tranh gồm cả phần thương mại hóa). Số ngoại tệ này là nguồn kinh phí chủ yếu để thực hiện cân đối cho quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của Sài Gòn. Lịch sử phát triển đặc thù này của nền kinh tế Sài Gòn cho chúng ta bài học. Để duy trì sản xuất, cần sớm tìm ra những hình thức nắm lại cơ chế kinh tế giữa nền kinh tế thành phố với thị trường trong nước và giữa nền kinh tế miền Nam (mà thành phố là trung tâm) với thị trường nước ngoài (bước đầu là nắm lại các mối quan hệ cũ có chọn lọc) là nhiệm vụ quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế thành phố, là điều kiện để chuyển dần từng bước sang một cơ chế kinh tế mới giữa thành phố và thị trường trong nước cũng như giữa thành phố với thị trường ngoài nước.
Ba là, sự tập trung hóa sản xuất kinh doanh cũng đã đạt tới một trình độ nhất định. Trong công nghiệp, số xí nghiệp lớn đầu đàn đã có 437 xí nghiệp từ 500 công nhân trở lên; 270 công ty tư bản lớn có phần hùn vốn của tư bản nước ngoài với tổng số tiền lên tới 60 tỉ đồng (tiền Sài Gòn) và xuất hiện một số tập đoàn tư bản lớn kinh doanh độc quyền nhiều ngành hàng. Chẳng hạn chỉ riêng tập đoàn tư sản mại bản La Nghĩa Tuấn Khuê – Hứu Phùng Chấn đã có tổng giá trị tài sản lên tới 47.992.354 đồng (Việt Nam) và 83.159 kg vàng đá quý (tính theo thời giá cải tạo tư sản năm 1976). Đây là những cơ sở kinh tế giữ vị trí chủ đạo gắn liền với một hệ thống xí nghiệp sản xuất kinh doanh loại vừa và nhỏ trong một cơ cấu sản xuất, kinh doanh (theo kiểu hình chóp nón) thống nhất. Vì vậy, khi quốc hữu hóa những cơ sở này, vị trí chỉ huy của nó chỉ có thể được bảo đảm trong điều kiện giữ được cơ cấu sản xuất kinh doanh cũ ở mức độ cao nhất để định hướng nền sản xuất kinh doanh theo mục đích mới.
Bốn là, để điều hành một nền kinh tế chuyên môn hóa cao tương đối hiện đại trong mối liên hệ sản xuất kinh doanh hết sức năng động (hoạt động chịu sự điều tiết của quy luật giá trị thặng dư). Nền kinh tế Sài Gòn đã tập trung trong bản thân nó một lực lượng lao động sản xuất, kinh doanh lành nghề, một đội ngũ chuyên viên quản lý xí nghiệp và kinh doanh giỏi (đạt tới trình độ kỹ xảo). Đó là một lực lượng thực sự có sức mạnh mang tính hai mặt trong quan hệ đối với giai cấp vô sản cầm quyền. Một mặt, nếu chúng ta bảo đảm được lợi ích kinh tế cho họ bằng những hình thức thích hợp nhằm tận dụng được nhiều nhất khả năng kỹ thuật và quản lý cụ thể của họ kết hợp với giác ngộ chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, họ sẽ trở thành một lực lượng vô cùng quý báu đối với cách mạng, sẽ làm lợi cho Nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng những hoạt động thực sự, trực tiếp của họ đối với nhiệm vụ phát triển sản xuất kinh doanh. Chính họ sẽ là người có nhiều khả năng nhất giúp Nhà nước xã hội chủ nghĩa nắm lại cơ chế kinh tế cũ, cùng với Nhà nước thiết lập từng bước vững chắc cơ chế kinh tế mới phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh của chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, nếu chúng ta đối lập họ với cách mạng, không biết sử dụng họ để cải tạo nền kinh tế, không đảm bảo lợi ích thỏa đáng cho họ thì hoặc họ chỉ còn là cái xác không hồn không giúp ích gì cho chúng ta, hoặc họ sẽ sử dụng khả năng chuyên môn và tiềm lực vật chất của họ, liên kết với giai cấp tiểu tư sản tiểu thương và các giai cấp chưa cải tạo khác, nắm lại cơ chế cũ chống lại Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Năm là, Sài Gòn – một trung tâm thương mại, dịch vụ ra đời trong chiến tranh và phục vụ chiến tranh. Tính chất không bình thường của nền kinh tế và sự khủng hoảng bấp bênh về chính trị đã dẫn đến một đặc điểm tâm lý chung là một bộ phận nhân dân thường tích trữ tiền, vàng, đá quý hoặc ngoại tệ để phòng thân. Đây chính là một lượng dự trữ rất đáng kể. Vì vậy, khi cách mạng giành được chính quyền, tiềm năng này cũng sẽ trở thành một sức mạnh mang tính hai mặt: nếu ta biết tìm ra hình thức huy động, nó sẽ trở thành một lực lượng vật chất hỗ trợ to lớn để chúng ta mở rộng sản xuất kinh doanh có lợi cho chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, nếu chúng ta không thu hút được, nó sẽ trở thành lực lượng phụ trợ tạo thêm sức mạnh cho khu vực kinh tế cá thể của tư sản và tiểu tư sản phát triển tự phát chống lại chủ nghĩa xã hội cả về mặt kinh tế và xã hội.
Đối với giai cấp tư sản người Hoa: khi đề cập tới đặc điểm nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở miền Nam, đặc biệt là Sài Gòn không thể không đề cập tới vai trò chi phối kinh tế của tư sản người Hoa. Trong nền kinh tế Sài Gòn, tư sản càng lớn thì tỉ lệ tư sản người Hoa cũng càng cao. Tuyệt đại bộ phận trong lực lượng này là số đầu nậu cỡ lớn, chiếm lĩnh từng ngành, từng mặt hàng quan trọng. Ví dụ tổng số tư sản đầu đàn loại lớn và một số loại đặc biệt khác gồm 3.538 người thì tư sản Hoa kiều chiếm tới 2.257 người. Từ đó cho thấy, nếu Nhà nước xã hội chủ nghĩa muốn nắm lại cơ chế kinh tế cũ (có chọn lọc) để phục vụ cho mục đích mới, không thể không nắm cơ sở kinh tế của tư sản người Hoa, đó là thực tế khách quan, tuy rằng điều này rất phức tạp.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực cần phải thấy cho hết, cho đúng mức, những mặt tiêu cực vốn là thuộc tính căn bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, như bóc lột, tự do cạnh tranh, tính tự phát vô chính phủ, cá lớn nuốt cá bé. Hơn thế nữa, nền kinh tế miền Nam lại chưa phải là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nên nó còn manh mún, phân tán, thiếu đồng bộ, lệ thuộc và mang đậm dấu ấn nặng nề của chủ nghĩa thực dân mới.
Trên đây là một số nét chủ yếu của sự phát triển lịch sử đặc thù của nền kinh tế Sài Gòn. Đây là những cơ sở thực tế quan trọng giúp chúng ta những căn cứ để xem xét tình hình kinh tế sau 5 năm cải tạo khôi phục xây dựng phát triển kinh tế thành phố, và cũng là cơ sở quy định việc lựa chọn con đường và phương pháp thích hợp nhất để đưa nền kinh tế của thành phố đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sự cần thiết sử dụng hình thức tư bản Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 30-4-1975 Sài Gòn giải phóng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã nắm được quyền lực chính trị và sử dụng ngay chính quyền của mình để cải tạo xây dựng và tổ chức lại nền kinh tế thành phố theo yêu cầu từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội sau khi nước nhà đã được thống nhất.
Chính quyền cách mạng đã thực hiện chủ trương quốc hữu hóa toàn diện quy mô lớn, một vũ khí cực kỳ quan trọng để đánh đổ giai cấp tư sản về phương diện kinh tế, tạo điều kiện cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa ngay từ khi mới ra đời đã nắm được tư liệu sản xuất chủ yếu và vị trí chỉ huy đối với các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Ngay sau giải phóng, chúng ta đã quốc hữu hóa 1.071 xí nghiệp công nghiệp bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất kinh doanh liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực hoạt động của các công ty tư bản lớn, vừa và kể cả một phần sở hữu nhỏ của giai cấp tư sản. Đó là những xí nghiệp công nghiệp quan trọng thuộc các ngành công nghiệp chủ chốt của công nghiệp thành phố và miền Nam gồm 3.987 hộ tư sản sản xuất. Những xí nghiệp này có trang bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất hiện đại, có năng lực sản xuất khá lớn, sử dụng một lực lượng lao động kỹ thuật và quản lý có trình độ chuyên môn cao (trên hàng trăm nghìn người). Toàn bộ cơ sở vất chất kỹ thuật và lao động của những xí nghiệp này đã được Nhà nước vô sản chuyển trực tiếp thành các xí nghiệp quốc doanh, dựa trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất do Nhà nước xã hội chủ nghĩa trực tiếp quản lý.
Cùng với quá trình quốc hữu hóa các xí nghiệp công nghiệp, nhà nước cũng đã quốc hữu hóa và tước đoạt toàn bộ cơ sở vật chất kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại, dịch vụ của tư sản mại bản, tư sản thương mại lớn bao gồm 11.044 hộ, các hộ kinh doanh thương nghiệp tư bản chủ nghĩa khác là 19.092 hộ. Đây là những lực lượng kinh doanh quan trọng nhất giữ vị trí chi phối và chỉ huy đối với toàn bộ nền kinh tế thương mại tư bản chủ nghĩa ở miền Nam. Như vậy, toàn bộ cơ sở vật chất của các ngành ngân hàng, thương nghiệp và dịch vụ phục vụ cho kinh doanh đã được Nhà nước ta quản lý và chuyển thành sở hữu toàn dân, kể cả lực lượng tư sản trong khu vực này có lúc chúng ta chủ trương không sử dụng lại mà đã chuyển họ sang các lĩnh vực sản xuất.
Toàn bộ tài sản thế chấp vắng chủ, hàng hóa vật tư chủ yếu, hệ thống kho tàng, bến bãi đã được Nhà nước ta tịch thu, hoặc mua lại để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh của khu vực quốc doanh.
Đã quốc hữu hóa hầu hết các cơ sở văn hóa, y tế, bệnh viện, nhà cho thuê chuyển sang sở hữu toàn dân do Nhà nước trực tiếp quản lý sử dụng.
Như vậy, tính đến cuối năm 1980 về mặt hình thức, nền kinh tế chủ yếu của thành phố đã căn bản được cải tạo và tổ chức lại sản xuất. Chúng ta đã nắm và trực tiếp quản lý 70% cơ sở sản xuất kinh doanh của tư bản, với tổng giá trị tài sản chiếm khoảng 80% tài sản của giai cấp tư sản thành phố, và giá trị tổng sản lượng trên 80% tổng sản lượng của thành phố (kết quả này có một phần nhỏ thuộc khu vực công tư hợp doanh mà thực chất là quốc doanh dưới hình thức mua lại và trả chậm các xí nghiệp của tư bản). Chúng ta đã nắm một lực lượng hàng hóa vật tư, tiền vàng đáng kể (chỉ tính riêng vật tư nguyên liệu chủ yếu còn tồn kho sau giải phóng đã chiếm đến trên 80%). Một bộ phận quan trọng nhất của giai cấp tư sản đã bị đánh đổ về mặt kinh tế, giai cấp tư sản nói chung đã bị thủ tiêu trên danh nghĩa, Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã nắm độc quyền về ưu thế chính trị và những lực lượng vật chất kỹ thuật chủ yếu của sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố.
Việc ra đời của thành phần kinh tế quốc doanh sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu tư liệu sản xuất bằng con đường quốc hữu hóa những cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc khu vực sở hữu tư bản chủ nghĩa, đã đảm bảo cho Nhà nước xã hội chủ nghĩa nắm được những tư liệu sản xuất quan trọng. Do đó, ngay từ khi mới ra đời, thành phần kinh tế quốc doanh đã chiếm lĩnh những vị trí then chốt của nền kinh tế quốc dân. Đó là kết quả kinh tế quan trọng nhất và cũng là thắng lợi về chính trị của cách mạng xã hội chủ nghĩa đối với giai cấp tư sản, đã dẫn đến sự nhảy vọt về chất trong kết cấu kinh tế – xã hội của nền kinh tế thời kỳ quá độ. Vì vậy, mặc dù chưa đủ khả năng trở thành thành phần kinh tế thống trị, nhưng thành phần kinh tế quốc doanh, ngay từ khi mới ra đời được sự ủng hộ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành một lực lượng kinh tế chủ đạo, giữ vai trò chi phối định hướng phát triển lên chủ nghĩa xã hội của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ngay sau khi quốc hữu hóa, mô hình chủ nghĩa tư bản Nhà nước cũng được hình thành dưới hai hình thức, công tư hợp doanh và chủ nghĩa tư bản hợp tác xã, dựa trên cơ sở chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa tập thể của tư sản, tiểu tư sản và tiểu nghiệp chủ hoặc hình thức cổ phần chia lãi do Nhà nước vô sản kiểm soát. Tính đến cuối năm 1980, thành phố đã có 150 xí nghiệp công tư hợp doanh, bao gồm 782 hộ tư sản và 5.146 hộ tiểu nghiệp chủ (hoạt động trong khu vực sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải); 2.615 hợp tác xã dưới nhiều mức độ khác nhau, hợp tác xã tổ hợp sản xuất, dựa trên sở hữu tư bản tập thể của tư sản và tiểu nghiệp chủ có bóc lột lao động làm thuê trong những chừng mực nhất định, và một hệ thống hợp tác xã mua bán thường kinh doanh trên cơ sở góp cổ phần của nhân dân có chia lãi dưới sự kiểm tra kiểm soát của hệ thống chính quyền cơ sở.
Đây là thành phần kinh tế quá độ cần thiết có khả năng thu hút các nhà tư sản cá biệt tiểu nghiệp chủ và nhân dân lao động vào quá trình phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh, chống lại các thế lực tự phát và góp phần củng cố địa vị kinh tế quốc doanh.
Tính đến cuối năm 1981, toàn thành phố có 848 xí nghiệp tư bản tư nhân, gồm 11.734 lao động hoạt động trong khu vực sản xuất công nghiệp. Trong thương nghiệp bao gồm toàn bộ số tư sản đã được cải tạo hoạt động lại, số tư sản thương nghiệp mới, lực lượng trung thương, thương lái, đầu nậu… có một sức mạnh đáng kể. Họ nắm giữ hầu hết các hàng nông sản từ các tỉnh về thành phố, mặt hàng nào cũng có những tên đầu nậu thao túng, hàng tiểu thủ công nghiệp tư thương nắm nhiều hơn ta (60 – 70%), nhất là số tư sản thương nghiệp. Đặc biệt là bộ phận thương nghiệp người Hoa, đây là bộ phận nòng cốt, làm chủ và chi phối thị trường tự do và giá cả của thành phố. Số này buôn bán lâu đời nên có nhiều kinh nghiệm buôn bán, vốn lớn và có mối quan hệ với tư bản nước ngoài, nhiều người có uy tín làm ăn với tư bản ở thị trường quốc tế.
Tuy nhiên, vai trò của thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng đã thay đổi. Từ địa vị thống trị trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, được sự ủng hộ của Nhà nước tư sản, sau cách mạng xã hội chủ nghĩa, bộ phận quan trọng nhất của thành phần kinh tế này đã bị quốc hữu hóa chuyển thành thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Bộ phận còn lại trở thành một thành phần kinh tế phụ thuộc vào thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa với nhiều mức độ khác nhau. Đó là những xí nghiệp tư bản vừa và nhỏ đang từng bước bị thu hẹp dần tới chỗ bị thủ tiêu hoàn toàn, cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa xã hội, thành phần này không có gì nguy hại. Nếu Nhà nước xã hội chủ nghĩa biết hướng hoạt động của nó nhằm bổ sung cho sự non yếu của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa mới ra đời, thông qua những hình thức quá độ thích hợp để thu hút tư bản vào phát triển lực lượng sản xuất kinh doanh, thì nhà tư bản có khả năng đem lại những lợi ích đáng kể nền kinh tế của thời kỳ quá độ.
Sản xuất hàng hóa nhỏ dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân và lao động cá nhân của gia đình người sở hữu cũng chiếm một lực lượng đáng kể. Cả thành phố có đến nửa triệu người sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở ngoại thành. Tính đến cuối năm 1981, toàn thành phố có 21.431 cơ sở sản xuất cá thể bao gồm 60. 463 lao động trong khu vực tiểu thủ công nghiệp và một lực lượng khổng lồ những người sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các tỉnh phía Nam có quan hệ mật thiết với thành phố. Đối với khu vực sản xuất thủ công nghiệp, sự phân biệt giữa thành phần kinh tế này của những người tiểu nghiệp chủ và tư bản tư nhân loại nhỏ hết sức linh hoạt và không rõ nét. Khu vực này, nhất là những người buôn bán nhỏ rất linh hoạt, luôn biến động và có chiều hướng phát triển rất đa dạng. Đặc biệt là ở khu vực chợ trời và ở lòng lề đường đã phát triển đến mức khó kiểm soát, quản lý. Lực lượng sản xuất hàng hóa nhỏ, buôn bán nhỏ còn quan hệ khá chặt chẽ với tư bản gây ra cho ta nhiều khó khăn về thị trường, giá cả, đời sống. Bản chất kinh tế của thành phần kinh tế này mang tính hai mặt. Một mặt nó cùng loại hình kinh tế với loại hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, chỉ khác nhau ở mức độ phát triển, vì vậy nó là cơ sở thường xuyên và trực tiếp đẻ ra chủ nghĩa tư bản. Mặt khác, do sản xuất được tiến hành trên cơ sở lao động trực tiếp của người chủ sở hữu bị chủ nghĩa tư bản chèn ép phân hóa, do đó nó có khả năng đi với chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện sản xuất tư bản chủ nghĩa, sản xuất hàng hóa nhỏ là khu vực kinh tế phụ thuộc và là một bộ phận hữu cơ của quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa; còn trong điều kiện xã hội chủ nghĩa, sản xuất hàng hóa nhỏ chịu sự chi phối và phát triển theo hai khuynh hướng. Họ có thể tiếp tục liên kết với tư bản để chống lại hoặc chịu sự hướng dẫn của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Do sản xuất hàng hóa nhỏ chiếm một tỷ trọng hết sức lớn trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ ở thành phố, lại chịu tác động từ hai phía tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa ngược chiều nhau. Vì vậy, việc hạn chế tính tự phát của sản xuất hàng hóa nhỏ và định hướng sự hoạt động của nó có lợi cho chủ nghĩa xã hội phụ thuộc chủ yếu vào vai trò của Nhà nước vô sản. Vấn đề là ở chỗ, Nhà nước xã hội chủ nghĩa có tìm ra được những hình thức kinh tế quá độ để thu hút nhà tư bản và những người sản xuất hàng hóa nhỏ vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đảm bảo cho được lợi ích của họ hay không.
Tóm lại, trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ, tính chất của các thành phần kinh tế đã có những thay đổi căn bản. Bản thân nền kinh tế chưa phải là chủ nghĩa xã hội, nhưng cũng không còn là tư bản chủ nghĩa nữa. Về thực chất, thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa và sản xuất hàng hóa nhỏ vẫn còn chiếm ưu thế đáng kể. Vì vậy, một nhiệm vụ bức xúc, hết sức phức tạp đặt ra cho Đảng và Nhà nước vô sản là phải sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế đó. Nhiệm vụ này là đòi hỏi khách quan của bản thân quá trình phát triển kinh tế, nhằm tận dụng tốt nhất mọi lực lượng kinh tế vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Thực trạng tình hình kinh tế cuối năm 80 trên địa bàn thành phố.
Thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là khu vực quốc doanh do Trung ương quản lý) sa sút một cách toàn diện và nghiêm trọng, mất dần vị trí chủ đạo đối với các thành phần kinh tế khác. Điều này thể hiện đặc biệt rõ trong việc giảm sút về tỷ trọng giá trị của công nghiệp Trung ương trong cơ cấu công nghiệp chung của thành phố (từ 70,3% năm 1976 giảm xuống còn 36,5% năm 1980), hàng loạt xí nghiệp quốc doanh có nguy cơ đóng cửa vì thiếu những điều kiện để sản xuất mà chủ yếu là nguyên liệu và phụ tùng. Chỉ tính riêng trong năm 1980, đã có 2,5 vạn công nhân quốc doanh Trung ương và 3.000 công nhân quốc doanh của thành phố bỏ xí nghiệp ra làm ngoài. Năng suất lao động của khu vực quốc doanh Trung ương chỉ bằng ½ năm 1976, còn quốc doanh thuộc thành phố nhích lên không đáng kể.
Cũng trong thời gian đó, tỷ trọng giá rị sản lượng của khu vực tiểu thủ công nghiệp (sản xuất dưới hình thức tư bản nhà nước hoặc cá thể) tăng lên rất nhanh từ 22,5% năm 1976 lên 48,5% năm 1980 trong cơ cấu tổng giá trị công nghiệp. Riêng khu vực tiểu thủ công nghiệp thì khu vực tư nhân cá thể chiếm 57% trong cơ cấu chung. Năng suất lao động của khu vực tiểu thủ công nghiệp tăng gấp 5 lần so với năm 1976. Năm 1981 số cơ sở tăng lên 8.000 cơ sở và số xí nghiệp công nghiệp tư nhân tập trung hoạt động trong 7 ngành chủ yếu: cơ khí 337 xí nghiệp, chế biến lương thực thực phẩm 160 xí nghiệp, vật liệu xây dựng 135 xí nghiệp, hóa chất nhựa 103 xí nghiệp, dệt da, may 51 xí nghiệp, văn hóa phẩm 35 xí nghiệp, và hàng tiêu dùng linh tinh khác 27 xí nghiệp. Có những xí nghiệp quy mô lớn hàng trăm công nhân, cũng có những xí nghiệp nhỏ nhưng chất lượng thiết bị và năng lực sản xuất rất cao, có người quản lý cả 10 xí nghiệp… Sự tồn tại phát triển mạnh mẽ của khu vực tiểu thủ công nghiệp tư bản chủ nghĩa đã chứng tỏ họ còn đủ các điều kiện kinh tế kỹ thuật để hoạt động và có đủ sức để phát triển rất mạnh. Thực tế trên đây không cho phép chúng ta lựa chọn biện pháp quốc hữu hóa đối với khu vực này để rồi không được gì mà phải tìm mọi cách để phát triển nó trong quỹ đạo, kiểm kê kiểm soát của Nhà nước vô sản nhằm thực hiện xã hội hóa sản xuất, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và của xã hội.
Kết quả là sự sa sút của khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa – lực lượng vật chất kỹ thuật chủ yếu của nền kinh tế thành phố đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ ngày càng tăng của khu vực sản xuất tư sản và tiểu tư sản, cả về mặt sản xuất và kinh doanh. Do đó, địa vị chính trị của Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng bị suy yếu theo, một bộ phận đáng kể cán bộ công nhân viên tha hóa về phẩm chất dưới những mức độ khác nhau… Đời sống của khu vực công nhân viên Nhà nước gặp khó khăn nghiêm trọng, lực lượng vật chất của chủ nghĩa xã hội bị xâm hại, bòn rút từ mọi phía; lòng tin đối với cách mạng, đối với Đảng có những diễn biến hết sức phức tạp theo chiều hướng xấu. Cụ thể là chưa bao giờ ta làm chủ được giá cả thị trường thành phố. Những thứ có tính chất chiến lược ta độc quyền từ sau giải phóng hoặc ta nắm đại bộ phận qua quá trình cải tạo, như nhiên liệu, vật tư, nguyên liệu chủ yếu, máy móc, một số phụ tùng quý … Nhưng sau đó cũng chạy ra thị trường tự do, có khi bày bán công khai ngoài chợ trời. Ở thời điểm ấy, xét cụ thể có những biểu hiện:
– Giá cả tăng vọt chưa từng có.
– Đời sống cán bộ công nhân viên Nhà nước chỉ đảm bảo không quá 1/3 nhu cầu hàng ngày, còn lại là do thị trường tự do chi phối.
– Hàng trong tay Nhà nước không ít, nhưng do tổ chức quản lý chưa tốt để hư hỏng nhiều và vẫn còn hiện tượng móc ngoặc tuồn hàng ra thị trường. Ngoài ra, hàng tự sản tự tiêu, Nhà nước mới nắm được từ 40 – 50%.
– Tiền mặt trong tay tư thương rất lớn, tiền trong tay Nhà nước nhiều lúc khó khăn, dù đã lạm phát lớn, ngày càng bị mất giá.
Tất cả tình hình trên đã trực tiếp tác động không tốt hàng ngày, hàng giờ đến cuộc sống nhân dân và cán bộ đảng viên.
Thực tiễn tình hình nói trên, chứng minh tính tất yếu của sự tồn tại 5 thành phần kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh là một thực tế khách quan, một tất yếu lịch sử. Nhưng sự tồn tại đó vừa có tính tự giác, vừa mang tính tự phát. Có thành phần kinh tế do cải tạo và xây dựng mà ra như hợp tác xã, công tư hợp doanh, kinh tế tư bản tư nhân dưới sự kiểm tra giám sát của Nhà nước, bộ phận chủ nghĩa tư bản đang hoạt động ngoài quỹ đạo xã hội chủ nghĩa còn hết sức lớn. Giai cấp tư sản đã bị đánh đổ nhưng chưa hoàn toàn bị tiêu diệt, số tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp còn liên kết với nhau, với nền sản xuất hàng hóa buôn bán nhỏ và tư bản nước ngoài cùng với một bộ phận cơ chế kinh tế Nhà nước do ta quản lý sơ hở… đã trở thành một thế lực kinh tế có từng lúc, từng mặt chúng mạnh hơn ta, chi phối thị trường, phá hoại nền sản xuất xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, đối với tư sản thương nghiệp ta đã dùng các biện pháp, trong đó biện pháp hành chính là chủ yếu để xóa bỏ chúng, nhưng chúng vẫn tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau và vẫn tiếp tục nắm nguồn hàng và tiền lũng đoạn nền kinh tế thành phố một cách nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đời sống nhân dân. Điều đó cho thấy:
Một là, trong quá trình cải tạo nền kinh tế thương mại tư bản chủ nghĩa tại Sài Gòn, hoạt động của chúng ta mới chủ yếu hướng vào biện pháp quốc hữu hóa và xã hội hóa, thông qua việc xác lập hai hình thức sở hữu quốc doanh và tập thể. Nội dung chủ yếu nhất của cải tạo là thực hiện xã hội hóa trên cơ sở tập trung mọi cố gắng nhằm tìm ra những hình thức tổ chức phù hợp nhất, những mắt xích trung gian để nắm lại cơ cấu kinh tế mới. Nhiệm vụ này chưa được chú ý thực hiện. Do đó, cơ cấu kinh tế cũ đã bị phá vỡ nhưng cơ cấu kinh tế mới thì chưa được xác lập, cho nên toàn bộ khu vực kinh tế quốc doanh thiếu cơ sở để tồn tại, hoạt động một cách vững chắc.
Trong khi đó, các khu vực kinh tế chưa bị quốc doanh hóa đã dần dần khôi phục, dần dần nắm lại các mối liên hệ kinh tế vốn có của thành phố với thị trường trong nước: họ có tiền, có tư liệu sản xuất, có lao động kỹ thuật cao, có thị trường, do đó sản xuất kinh doanh của khu vực này đủ điều kiện để tái sản sinh và phát triển rất nhanh.
Hai là, về nhận thức tư tưởng, chúng ta đối lập một cách máy móc chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội, do đó trong hoạt động thực tiễn, chúng ta không tạo điều kiện để có thể sử dụng tốt nhất các nhà tư bản cá biệt có trình độ nghiệp vụ cao vào công cuộc phát triển các ngành kinh tế – kỹ thuật; giúp chúng ta nắm lại các mối quan hệ kinh tế cũ, phục vụ cho yêu cầu xây dựng và phát triển sản xuất kinh doanh của thành phố. Hậu quả là lực lượng lao động chuyên môn giỏi tinh hoa của nền sản xuất thương mại tư bản chủ nghĩa đã không được huy động đúng mức vào công cuộc xây dựng kinh tế. Có thể nói, đây là cái mất lớn nhất mà chúng ta phải trả giá đắt.
Ba là, tiềm năng vật chất (vốn, vật tư, kỹ thuật) tiềm tàng trong lòng thành phố còn hết sức lớn. Chúng ta chưa tìm cách khai thác triệt để lực lượng vật chất quan trọng này để mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, tiềm năng này lại bị khu vực sản xuất tư bản chủ nghĩa tìm mọi cách thu hút để mở rộng sản xuất kinh doanh đầu cơ thao túng thị trường, chống lại chủ nghĩa xã hội.
Bốn là, trong quá trình cải tạo, việc phân cấp quản lý những cơ sở sản xuất – kinh doanh được quốc hữu hóa trên địa bàn thành phố, chúng ta đã không coi trọng sự phát triển lịch sử đặc thù của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa, không đảm bảo giữ mối liên hệ thống nhất trong cơ cấu ngành, liên ngành và trong toàn bộ nền kinh tế của thành phố gắn bó hữu cơ với kinh tế của các tỉnh miền Nam và thị trường ngoài nước. Ngược lại, chúng ta đã phân nhỏ, cắt rời quá trình sản xuất – kinh doanh và phân chia trên cơ sở: Trung ương nắm trong cơ sở sản xuất – kinh doanh lớn, cấp thành phố loại vừa và cấp quận huyện loại nhỏ, do đó những xí nghiệp lớn đã bị cô lập suy yếu do thiếu những điều kiện để cân đối.
Năm là, về phương pháp quản lý chúng ta áp dụng một chế độ quản lý chưa phù hợp với nền kinh tế đặc thù của thành phố, cô lập thành phố với các tỉnh phía Nam, cắt rời sản xuất với kinh doanh, cắt rời thị trường xã hội chủ nghĩa với thị trường tự do… hệ thống quản lý đó trên thực tế đã trói buộc khả năng hoạt động năng động của kinh tế xã hội chủ nghĩa đối với các khu vực sản xuất khác và với thị trường, do đó đã tạo điều kiện cho kinh tế tư bản phục hồi nhanh, chống lại kinh tế xã hội chủ nghĩa từ mọi phía (tiền, hàng, giá…)
Tóm lại, phá vỡ cơ sở tồn tại của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, chia cắt, cô lập nền kinh tế của thành phố với các tỉnh phía Nam và thị trường ngoài nước, chúng ta đã phạm phải một sai lầm không tự giác là đã chuyển nền sản xuất lớn dựa trên cơ sở chuyên môn hóa và hợp tác hóa (của tư bản chủ nghĩa) thành nền sản xuất nhỏ khép kín tự cân đối trong từng xí nghiệp, từng khu vực kinh tế mà bản thân nền kinh tế thành phố không thể tồn tại trên cơ sở đó được. Đó là hậu quả lớn nhất được thể hiện rõ nét vào cuối năm 1980.
Tôn trọng thực tế, nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta hoàn toàn có khả năng tổ chức lại, sữa chữa những yếu kém khuyết điểm của nền kinh tế thành phố. Xác lập lại mối quan hệ hữu cơ nội tại bên trong của bản thân nền kinh tế thành phố, khôi phục lại mối liên hệ vốn có giữa thành phố với các tỉnh phía Nam, giữa thành phố trung tâm xương sống của nền kinh tế miền Nam với thị trường nước ngoài, bằng cách nắm lại cơ chế liên kết kinh tế cũ thông qua những phương pháp quá độ, những mắt xích trung gian, những hình thức tổ chức phù hợp với đặc điểm, đặc thù của nền kinh tế thời kỳ quá độ ở thành phố. Bảo đảm sự phù hợp thường xuyên giữa trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với các quan hệ sản xuất tương ứng, chuyển dần từng bước vững chắc nền kinh tế thành phố và các tỉnh phía Nam lên chủ nghĩa xã hội.
Qua thực tiễn có thể khẳng định, con đường và phương pháp năng động nhất để khắc phục tình trạng phân tán của nền kinh tế thành phố phù hợp với sự phát triển lịch sử đặc thù của nền kinh tế thành phố là vận dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Bằng hình thức vận dụng mô hình chủ nghĩa tư bản Nhà nước, chúng ta hoàn toàn có khả năng nắm lại cơ chế liên kết kinh tế cũ để định hướng phát triển toàn bộ khu vực sản xuất nhỏ tư nhân của miền Nam lên chủ nghĩa xã hội, dựa trên cơ sở phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và củng cố địa vị của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1981 đến nay, nhờ vận dụng phương thức tư bản nhà nước trong một số ngành sản xuất kinh doanh, thành phố Hồ Chí Minh đã thu được những kết quả có sức thuyết phục.
Trước tình hình nói trên, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ II năm 1980, sau khi phân tích thực tiễn 5 năm cải tạo và khôi phục nền kinh tế đã nêu rõ:
“Từ thực tế những năm qua, một câu hỏi được đặt ra là: làm thế nào sử dụng hết công suất các xí nghiệp công nghiệp, ổn định tài chính, lưu thông tiền tệ của thị trường, tăng cường nắm nguồn hàng trong tay Nhà nước, củng cố và phát triển trận địa xã hội chủ nghĩa trên địa bàn thành phố theo đúng Nghị quyết 6 của Trung ương Đảng và Nghị quyết 20 của Bộ Chính trị, vận dụng phù hợp với vị trí trách nhiệm và đặc điểm của thành phố, tránh đi đường vòng, mang lại lợi ích thiết thực to lớn cho cả nước trước mắt và lâu dài”.
Câu hỏi trên đây đặt ra hàng loạt vấn đề về tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa, tổ chức lại sản xuất, xây dựng và quản lý kinh tế ở thành phố theo phương thức xã hội chủ nghĩa. Vấn đề mới mà đại hội thành phố đặt ra là làm thế nào để chúng ta tránh đi đường vòng, có nghĩa là chúng ta phải tìm ra bước đi thích hợp ngắn nhất, có lợi nhất, để đưa thành phố mà nền sản xuất còn phổ biến là sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Có nghĩa là chúng ta phải tìm ra những hình thức kinh tế quá độ, bước đi trung gian cần thiết phù hợp với quy luật, tránh nôn nóng, muốn đi nhanh đốt cháy giai đoạn mà thực chất là đi vòng như thời gian qua ta đã làm.
Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần của thời kỳ quá độ, thành phố rút ra nội dung của việc sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế thể hiện ở 3 nhiệm vụ quan trọng nhất sau đây:
– Một là, phải xây dựng một hệ thống chính sách kinh tế phù hợp với lợi ích của các thành phần kinh tế khác nhau, tức là phù hợp với bản chất xã hội của chúng, thể hiện được đầy đủ nhất những nội dung khách quan của các quy luật kinh tế hoạt động trong điều kiện kinh tế cụ thể của nền kinh tế thời kỳ quá độ.
– Hai là, phải tìm ra được những hình thức tổ chức kinh tế có hiệu quả nhất, phù hợp với tính chất quá độ của các quan hệ kinh tế trong nước, quan hệ tác động qua lại giữa các thành phần kinh tế, hình thức này phải đảm bảo được vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh.
– Ba là, phải kết hợp đúng đắn việc cải tạo xã hội chủ nghĩa với xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, phải kết hợp một cách tối ưu xã hội hóa hình thức và xã hội hóa thực tế.
Trong thời kỳ quá độ, nhiệm vụ quan trọng và khó khăn nhất không phải là quốc hữu hóa những tư liệu sản xuất, và chủ yếu nhất cũng không phải là thực hiện xã hội hóa hình thức (thiết lập quốc hữu hóa sản xuất xã hội chủ nghĩa không cần xét đến sự phát triển của lực lượng sản xuất) một cách tràn lan, đồng loạt theo những quy định chủ quan về thời gian. Điều quan trọng nhất của xây dựng chủ nghĩa xã hội là thực hiện xã hội hóa trên thực tế. Về nội dung của vấn đề này Lênin đã chỉ rõ: Muốn thực hiện xã hội hóa trên thực tế thì phải xây dựng cơ sở vất chất kỹ thuật phù hợp với trình độ phát triển của các quan hệ sản xuất, phải xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển tương xứng của lực lượng sản xuất, đồng thời phải tiến hành cách mạng văn hóa để hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Trong báo cáo Chính trị trình tại Đại hội IV Đảng ta cũng chỉ rõ: Phải luôn luôn thấu suốt đặc điểm của quá trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất luôn luôn gắn bó nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, mỗi bước cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới đều thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của lực lượng sản xuất mới. Ngược lại, mỗi bước tạo ra lực lượng sản xuất mới đều có tác dụng củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới. Trong cách mạng về quan hệ sản xuất phải gắn liền sự biến đổi của chế độ sở hữu với sự biến đổi của chế độ phân phối, của tổ chức thành phần quốc doanh, tăng cường thành phần tập thể, hướng dẫn tốt thành phần cá thể, lấy quốc doanh làm lực lượng nòng cốt lãnh đạo.
Việc tạo ra một nền đại công nghiệp có khả năng cải tạo cả nông nghiệp trong một cơ cấu sản xuất kỹ thuật thống nhất, và việc hình thành những con người mới, sản phẩm của cốt vật chất đó là cả một giai đoạn lịch sử dài, vài chục năm. Vì vậy, để có thể sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế của nền kinh tế thời kỳ quá độ, tất yếu phải trải qua những bước quá độ, những hình thức trung gian liên hợp phù hợp với lợi ích xã hội của tất cả các thành phần kinh tế đặc thù của thời kỳ quá độ, tạo điều kiện thuận lợi cho bước chuyển hóa từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội, phương pháp, con đường chắc chắn nhất để thực hiện bước chuyển đó như Lênin đã chỉ ra là:
-“Vì chúng ta chưa đủ điều kiện chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội, bởi vậy trong một mức độ nào chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao đổi, bởi vậy chúng ta phải “lợi dụng” chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản Nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội làm phương tiện, con đường phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên1”.
Như vậy, luận điểm của Lênin về sự tất yếu trải qua con đường sử dụng chủ nghĩa tư bản Nhà nước trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ, có thể coi là cơ sở lý luận và phương pháp luận để chúng ta giải quyết những nhiệm vụ to lớn trong việc cải tạo xã hội chủ nghĩa từ nền sản xuất nhỏ tiến lên chủ nghĩa xã hội.
3- Ý NGHĨA CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ BẢN NHÀ NƯỚC VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Lênin là người đầu tiên nghiên cứu chủ nghĩa tư bản nhà nước. Người đã đánh giá ý nghĩa to lớn của việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là con đường tất yếu phải trải qua để chuyển nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội, là phương pháp tốt nhất để thực hiện xã hội hóa trên thực tế.
Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ là việc chính quyền xã hội chủ nghĩa cho phép chủ nghĩa tư bản hoạt động dưới sự kiểm kê và kiểm soát của toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm, nhằm phát triển lực lượng sản xuất, đẩy nhanh xã hội hóa sản xuất, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Đó là một hình thức kinh tế – xã hội hỗn hợp tất yếu, một thành phần kinh tế đặc thù trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ. Chủ nghĩa tư bản nhà nước nó là chủ nghĩa tư bản, nhưng chủ nghĩa tư bản này do nhân dân lao động chỉ huy và mục đích của nó là phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Nó là biểu hiện ở trang thái kinh tế vừa có chủ nghĩa xã hội vừa chưa có chủ nghĩa xã hội như đồng chí Lê Duẩn đã từng nhận xét, việc sử dụng những mặt tích cực của giai cấp tư sản về kinh tế đã làm lợi cho nhân dân lao động là phù hợp với quy luật phát triển. Lênin đã từng vạch rõ: Chúng ta sẽ có thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội hay không điều đó chính là tùy ở kết quả của chúng ta trong việc kết hợp chính quyền Xô-viết và chế độ quản lý Xô-viết với những tiến bộ mới nhất của chủ nghĩa tư bản.
Tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ không phải là giai cấp tư sản độc quyền mà chỉ là những tư sản riêng biệt. Trong quan hệ với tư bản, không phải Nhà nước xã hội chủ nghĩa phụ thuộc vào nhà tư bản mà trái lại chính nhà tư bản phụ thuộc vào Nhà nước xã hội chủ nghĩa (cả về kinh tế và chính trị) và hoạt động trên cơ sở phục vụ lợi ích của nhân dân lao động. Khi giai cấp vô sản đã nắm được chính quyền và các vị trí then chốt, thì như Lênin đã chỉ rõ: Chủ nghĩa tư bản nhà nước không có gì đáng sợ đối với chính quyền Xô-viết, trái lại đặc điểm của nó là một loại hình kinh tế quá độ đặc thù sẽ đưa chúng ta đến chủ nghĩa xã hội bằng con đường chắc chắn nhất: bởi vì tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản nhà nước tồn tại và hoạt động thực sự thì Nhà nước xã hội chủ nghĩa lợi dụng được mặt tiến bộ về nghệ thuật, quản lý sản xuất, kinh doanh trên quy mô toàn quốc của giai cấp tư sản để phục vụ cho việc tổ chức lại sản xuất kinh doanh, do đó sẽ đảm bảo cho chủ nghĩa xã hội được củng cố.
Hai là, về kinh tế, trình độ tổ chức sản xuất, quản lý và năng lực lao động chủ nghĩa tư bản nhà nước cao hơn nhiều so với sản xuất hàng hóa nhỏ và tiểu tư bản.
Theo Lênin, về trình độ tổ chức và phát triển năng suất lao động thì chủ nghĩa tư bản nhà nước cao hơn hẳn nền sản xuất hàng hóa nhỏ một cái đầu, vì chủ nghĩa tư bản nhà nước có tính tập trung, tính kế hoạch, làm ăn có tính toán. Mặt khác, ta kiểm soát được nó, điều khiển được nó.
Ba là, trình độ xã hội hóa (hợp tác hóa) của chủ nghĩa tư bản nhà nước cao hơn sản xuất hàng hóa nhỏ và tiểu tư bản.
Như vậy, với những ưu điểm vốn có của nó, chủ nghĩa tư bản nhà nước trong tay nhân dân lao động hoàn toàn có thể được sử dụng như là một công cụ, một phương tiện mạnh mẽ để chống lại tình trạng hỗn độn, tự phát, vô chính phủ của những người tiểu sản xuất, một lực lượng kinh tế, một kẻ thù nguy hiểm của con đường lên chủ nghĩa xã hội. Việc chiến thắng được tình trạng hỗn độn, suy sụp về kinh tế và hiện tượng lỏng lẻo do tình trạng tự phát vô chính phủ của những kẻ tiểu sản xuất gây ra là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa để cứu chủ nghĩa xã hội trong thai nghén khỏi họa diệt vong. Để thực hiện nhiệm vụ này chủ nghĩa tư bản nhà nước là phương tiện chắc chắn nhất, là con đường hiệu quả nhất có khả năng thu hút không những cả tư bản trong nước và tư bản nước ngoài mà còn có khả năng định hướng hoạt động của cả khu vực tiểu sản xuất vào quỹ đạo kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phục vụ cho công cuộc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Lênin giải thích: hoặc giả (chính sách cuối cùng có thể áp dụng được là duy nhất hợp lý) không tìm cách ngăn chặn hay chặn đứng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, mà tìm cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước, về phương tiện kinh tế đó là điều có thể thực hiện được, vì ở chỗ nào có những thành phần tự do buôn bán và thành phần tư bản chủ nghĩa nói chung thì ở đó có chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức này hay hình thức nọ, Lênin cũng đã chỉ rõ điều kiện nào ta phải sử dụng hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước: việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là một hình thức quá độ mềm dẻo rất cần thiết đối với những nước có trình độ phát triển trung bình và thấp, bước vào thời kỳ quá độ. Nhận định đó của Lênin phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thành phố đang ở bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ. Điều này không có gì mâu thuẫn với đường lối của Đảng là tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà nó là mắt xích trung gian, là chiếc cầu nhỏ vững chắc, ngắn nhất để tạo điều kiện cho thành phố đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa một cách hiệu quả.
Về hình thức, nhìn chung thì của chủ nghĩa tư bản nhà nước ở từng nước, phụ thuộc vào những điều kiện phát triển lịch sử cụ thể, có thể sử dụng những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Vấn đề có ý nghĩa nguyên tắc là biết tìm ra những hình thức tổ chức thích hợp, chủ động phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của từng nước, từng ngành, từng địa phương, nhằm sử dụng tối đa chủ nghĩa tư bản nhà nước phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Một hình thức phát triển con đường tư bản nhà nước có ý nghĩa kinh điển là chế độ tô nhượng. Đó là một hình thức liên kết giữa Chính quyền Nhà nước xã hội chủ nghĩa với chủ nghĩa tư bản chống lại thế lực tự phát, phát triển tư hữu. Người đã trả tô cho nhà tư bản kinh doanh theo phương thức tư bản để lấy lợi nhuận trên cơ sở được thỏa thuận đó chính là chính quyền xã hội chủ nghĩa. Phương thức này vừa đảm bảo cho tư bản thu được lợi nhuận vừa tạo điều kiện để chính quyền xã hội chủ nghĩa tăng cường được nền đại sản xuất, đối lập với nền sản xuất nhỏ, tăng thêm sản phẩm của đại công nghiệp để củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và cải tạo sản xuất nhỏ, giúp cải thiện nhanh chóng tình trạng sản xuất và đời sống của công nhân và nông dân.
Các hợp tác xã cũng là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước, bao gồm hàng triệu tiểu nghiệp chủ hợp tác trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế nhỏ quá độ lên nền đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết hợp.
Hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước thứ ba là Nhà nước lôi cuốn nhà tư bản thương nghiệp, cho phép họ hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh để bán sản phẩm của Nhà nước và mua sản phẩm của người sản xuất nhỏ.
Hình thức thứ tư Nhà nước cho tư bản thuê xí nghiệp hoặc vùng mỏ, khu đất, khu rừng để sản xuất những sản phẩm do Nhà nước yêu cầu.
Theo Lênin, khi sử dụng hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước chú ý 3 nguyên tắc sau:
Một: Chúng ta phải sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở những ngành kinh tế nào có tác dụng thúc đẩy sản xuất.
Hai: Khi đầu tư phải khuyến khích các ngành có qui mô lớn với kỹ thuật tiên tiến, nhằm tranh thủ kỹ thuật hiện đại (nhưng có chỗ Lênin đề nghị sử dụng cả tư sản trong hợp tác xã).
Ba: Phải giữ vững độc lập tự chủ nền kinh tế, nắm chắc những vị trí then chốt của nền kinh tế.
Tóm lại, cần xác định mục đích sử dụng hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước của thành phố nhằm:
– Làm công cụ chiến thắng tính tản mạn vô chính phủ, vô tổ chức của nền sản xuất nhỏ.
– Tận dụng tiềm năng kinh tế do chủ nghĩa tư bản để lại và tranh thủ trang bị kỹ thuật hiện đại, tạo điều kiện thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
– Đảm bảo sản xuất và đời sống nhân dân.
– Tạo điều kiện cải tạo nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đưa toàn bộ nền sản xuất hàng hóa nhỏ, tư bản tư nhân đi vào quỹ đạo xã hội chủ nghĩa, từng bước xác lập vị trí thống trị của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế.
Như vậy, sử dụng hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước là ta chủ động mở cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận kinh tế chứ không phải đây là sự thỏa hiệp với giai cấp tư sản. Đặc điểm của cuộc đấu tranh giai cấp ấy là kết hợp cải tạo, sử dụng chính trị với kinh tế, hòa bình với bạo lực, thuyết phục với cưỡng bách, giáo dục với hành chính… trong đó, đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp lâu dài phức tạp và có ý nghĩa quyết định đối với sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thông qua con đường phát triển tư bản nhà nước như là một trong những hình thức kinh tế quá độ cực kỳ quan trọng.
Vì vậy, cần sử dụng tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức đa dạng khác nhau:
– Trong sản xuất cần khuyến khích hình thành các xí nghiệp công tư hợp doanh, xí nghiệp hợp tác, xí nghiệp tư nhân dưới sự quản lý của Nhà nước, hợp tác xã, tổ hợp tác.
– Trong ngoại thương, các công ty công tư hợp doanh xuất nhập khẩu.
– Trong thương nghiệp, tổ chức hợp tác kinh doanh với tư thương.
– Tổ chức các công ty cổ phần, huy động vốn kinh doanh trong nước và xuất nhập khẩu.
Trong các mô hình trên đây, mô hình sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong sản xuất công nghiệp dưới hình thức công tư hợp doanh của thành phố là ưu điểm hơn cả. Chấp hành Nghị quyết 6 “Phải tận dụng các thành phần kinh tế: quốc doanh công tư hợp doanh tập thể, cá thể (kể cả tư sản được kinh doanh hợp pháp)” Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 2 nêu rõ: “Cần kiểm tra lại các đơn vị đã cải tạo để thi hành cho đúng chính sách, phát huy tốt cơ cấu kinh tế 5 thành phần: quốc doanh, hợp tác xã, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân và cá thể hoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước hướng vào mục đích vì lợi ích của xã hội chủ nghĩa, trong đó không ngừng phát huy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh”. Bằng hình thức tổ chức và các biện pháp thích hợp phối hợp được mọi khả năng trong khu vực, kết hợp được 3 lợi ích phát huy được các thành phần kinh tế, phương châm là qua sử dụng để cải tạo tư sản (đồng thời, kết hợp cải tạo để tạo điều kiện sử dụng tư sản có hiệu quả hơn). Vận dụng tổng hợp 3 biện pháp giáo dục, hành chính, kinh tế mà biện pháp kinh tế là chủ yếu, trên cơ sở thực hiện 3 lợi ích. Ở đây vừa thực hiện lợi ích cho Nhà nước, cho xí nghiệp, cho người lao động, chú ý lợi ích người tư sản đúng mức, sòng phẳng để làm đòn bẩy thúc đẩy họ phấn khởi hợp tác với Nhà nước. Lênin cũng từng chỉ rõ: Dĩ nhiên là phải có một vài hy sinh là thả cho tư sản hàng chục triệu rúp sản phẩm vô cùng quý báu, sẽ giúp chúng ta cải thiện được nhanh chóng (đến mức độ nào đó không cao lắm) đời sống công nhân và nông dân. Nếu không như thế thì tư sản không thể nào hợp tác với ta. Đó là phương pháp cải tạo triệt để đối với tư sản và các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa.
Sở dĩ Đại hội thành phố đặt vấn đề phải kiểm tra lại các đơn vị đã cải tạo, vì các ngành chức năng chưa làm đúng chủ trương như đại hội, nhận xét “Đối với công tư hợp doanh thì làm không đúng chính sách, thực chất là quốc doanh”. “Trong chỉ đạo, chưa coi trọng việc vận dụng các chính sách cụ thể đối với các thành phần tư sản”. Đối với công tư hợp doanh, hầu hết đều đã không duy trì được khả năng quản lý và sản xuất cũ của nó; do quan niệm là mua lại trả dần, nên không ngành nào vận dụng tốt chính sách để sử dụng khả năng chủ cũ và các cổ đông cũ, cũng không phát huy được quyền làm chủ tập thể của công nhân trong các xí nghiệp. Cụ thể là việc duyệt vốn hợp doanh, vốn của chủ cũ, trả dần theo tỷ lệ qui định hàng năm cũng chưa được thực hiện sòng phẳng. Hạ thấp vốn tài sản cố định, ép giá trong việc xác nhận vốn, chuộc lại tài sản trả dần cho chủ nhân trong 12 năm 6 tháng dưới hình thức trả lãi cố định 8%/năm nhập cục với việc trả vốn cố định. Nhà nước trả lãi hàng năm qua tài khoản ở ngân hàng. Trong quy định ngân hàng chỉ cho gia đình tư sản 50 đồng/đầu người/tháng, chỉ trừ trường hợp đặc biệt.
Ngoài ra, việc xếp thang bậc lương của công nhân trong xí nghiệp công tư hợp doanh như lương trong xí nghiệp quốc doanh, chế độ quản lý công tư hợp doanh như chế độ quốc doanh (quản lý theo chế độ hành chính bao cấp).
Về tổ chức, người của ta làm giám đốc, cử tư sản là làm phó giám đốc nhưng không có quyền hạn gì, chỉ ngồi chơi xơi nước. Từ đó dẫn đến hậu quả:
– Tư sản bỏ ra nước ngoài rất nhiều: có 120/195 tư sản bỏ đi (số tư sản tham gia công tư hợp doanh).
– Công nhân bỏ việc, có tháng lên đến 600 – 700 công nhân, đáng kể là số công nhân kỹ thuật có tay nghề cao bỏ việc ra nước ngoài kiếm sống.
Từ thực tế nêu trên có mấy nhận định sau đây:
1. Cơ chế kinh tế tư bản chủ nghĩa tồn tại và phát triển hàng trăm năm; nó có sức mạnh thống trị không phải ở thành phố mà cả khu vực, nó có mối liên quan hệ chặt chẽ giữa công nghiệp thương nghiệp, ngoại thương, ngân hàng, tài chính thành một cơ chế kinh tế đồng bộ; nó có mối liên hệ chân rết với nền sản xuất nhỏ tiểu thủ công nghiệp ở thành phố và sản xuất nông công nghiệp rộng lớn của khu vực; nó có mối quan hệ chi phối trong nước và quan hệ hữu cơ với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nước ngoài. Do đó, muốn thay đổi cơ chế kinh tế đó để thay vào một cơ chế kinh tế xã hội chủ nghĩa, không thể làm ngay lập tức được mà phải là cả một quá trình lâu dài.
Nền kinh tế đó lại có 2 mặt tích cực: kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, trình độ tay nghề kỹ thuật, vốn hết sức lớn mà giai cấp vô sản phải biết tận dụng họ. Đồng thời, mặt tiêu cực họ cũng rất nguy hiểm như nạn đầu cơ phá rối thị trường, buôn lậu… Nhưng khi Nhà nước xã hội chủ nghĩa nắm lấy và sử dụng được mặt tích cực của họ cũng có nghĩa là tạo điều kiện để hạn chế những mặt tiêu cực của họ, đồng thời kiên quyết đấu tranh với mặt tiêu cực để tạo điều kiện sử dụng những mặt tích cực của họ có hiệu quả hơn.
2. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cũng như ở thành phố là một quá trình biến đổi cách mạng toàn diện, liên tục vô cùng sâu sắc và triệt để. Đó là quá trình kết hợp cải tạo với sử dụng, sử dụng để cải tạo, trong cải tạo có sử dụng, trong sử dụng có cải tạo mà sử dụng là chủ yếu.
Vừa qua một thời gian dài ta đặt cải tạo là chủ yếu chứ không phải sử dụng là chủ yếu. Do đó, đã đẩy những phần tử có thể sử dụng được sang thành lực lượng đối lập, làm cho thế lực kinh tế tư bản chủ nghĩa tăng cường thêm sức mạnh. Cho nên cơ chế kinh tế tư bản chủ nghĩa đang hoạt động mạnh ngoài quỹ đạo xã hội chủ nghĩa là một thực tế. Vấn đề đặt ra là làm cách nào đưa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đi vào quỹ đạo xã hội chủ nghĩa, lôi cuốn những phần tử có thể lôi cuốn được ở tất cả các ngành, cả thương nghiệp và ngân hàng và hạn chế tiến tới đưa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
3. Việc sử dụng hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước trở thành là một thực tế khách quan, nó có vị trí lịch sử vô cùng quan trọng chỉ ra con đường, phương thức từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Đã đến lúc Nhà nước xã hội chủ nghĩa cần nhận thấy rằng không thể đi một mình mà phải đi bằng cả 5 thành phần kinh tế. Mặt khác, thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể đều thấy gắn với kinh tế quốc doanh thì mới yên ổn làm ăn được. Báo cáo của ông Trần Văn Đại một tư thương tham gia hợp tác với Nhà nước về trái cây, phường 1 Quận 6 có đoạn nêu rõ: “Tôi cũng đã trải qua nhiều suy nghĩ, làm riêng lẻ thì tự do hơn, thu nhập cũng khá hơn. Song, đời sống bấp bênh như nước lớn, nước ròng, còn cộng tác với hợp tác xã tiêu thụ thì lúc đầu thu nhập của tôi chắc chắn sẽ giảm sút, nhưng mình cũng được góp phần với Nhà nước, phục vụ đồng bào, cuộc sống chắc chắn sẽ ổn định. Hơn nữa tôi thấy đường lối làm ăn của hợp tác xã phường 1 Quận 6 vững chắc, phương thức ăn chia rõ ràng”. Điều kiện khách quan đó cho ta có thể sử dụng hình thức tư bản nhà nước thuận lợi nhất.
4. Thành phố năm 1981, có sự đóng góp của việc sử dụng các hình thức tư bản nhà nước là rất quan trọng: sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp tiếp tục phát triển và vượt kế hoạch từ 1,7 tỉ của năm 1980 tăng lên 2,9 tỉ năm 1981, giá trị tổng sản lượng trong đó sản xuất tiểu thủ công nghiệp chiếm 2/3 tổng giá trị sản lượng thành phố, lực lượng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa mở rộng kinh doanh, doanh số mua vào gấp hơn 4 lần so năm 1981, chi phối 50% thị trường, lực lượng hàng hóa nhiều hơn nên việc cung cấp các mặt hàng theo tiêu chuẩn định lượng ổn định hơn. Xuất khẩu địa phương tăng 20 lần, nhập khẩu tăng 3 lần so với năm trước, bước đầu huy động được các ngành, quận, huyện tham gia xuất khẩu, huy động được vốn trong dân, mở rộng được thị trường thu ngân sách, thu tiền mặt đều vượt kế hoạch. Từng ngành, từng quận, huyện, phường, xã, đơn vị kinh tế cơ sở đều có những chuyển biến mới về cung cách sản xuất kinh doanh, bước đầu trở thành phong trào rộng khắp trong thành phố, tạo cơ sở tốt cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 1982.
Kết quả đó lại thực hiện trong điều kiện vật tư hàng hóa, vốn đầu tư xây dựng cơ bản trung ương cung ứng ít hơn năm trước và năng lượng không ổn định. Năm 1982 và những năm sau, nếu chúng ta kịp thời củng cố và phát triển theo hướng làm ăn mới, có hiệu quả, trong đó chú trọng với việc áp dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trên nhiều ngành quan trọng của nền kinh tế thành phố, chắc chắn sẽ tạo nên những thành quả to lớn hơn nữa.

Posted by: admin | October 24, 2008

Chương 3

VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC

Sau năm năm triển khai thực hiện đường lối đổi mới giai đoạn 1986 -2001, Nghị quyết Đại hội VII khẳng định: “Trong công cuộc đổi mới, chúng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là tư tưởng của Lênin về chính sách kinh tế mới, về chủ nghĩa tư bản nhà nước với nhiều hình thức đa dạng, phong phú phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để đưa đất nước ta từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội”.
Vậy, ở thành phố Hồ Chí Minh đã vận dụng tư tưởng của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước như thế nào? Có thể nhận thấy quá trình vận dụng được phân thành hai giai đoạn.
Sự vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Nền kinh tế Việt Nam trước Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI là cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Nhiều chính sách thể chế đã lỗi thời chưa được thay đổi, một số thể chế quản lý mới còn chắp vá, không phù hợp, thậm chí trái ngược nhau. Bộ máy tập trung quan liêu nặng nề, đồng thời những hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật còn khá phổ biến. Đã có những biểu hiện nóng vội muốn loại bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến tư bản tư nhân thành quốc doanh. Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. Nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, bất ổn định thường xuyên, lạm phát phi mã, đời sống ngày càng sa sút, tâm lý chán nản bộc lộ rõ trong cán bộ và nhân dân lao động ngày một gia tăng.
Trước tình hình đó, thành phố đi đầu: “xé rào” thể nghiệm sử dụng chủ nghĩa tư bản như một hình thức kinh tế quá độ để kết hợp cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Nhìn chung, việc vận dụng tư bản nhà nước trong thời kỳ này vẫn còn ở phạm vi thể nghiệm ở một số hình thức và ở một số ngành. Trong khi cơ chế hành chính quan liêu bao cấp vẫn còn nặng nề, trì kéo làm cho việc chuyển sang cơ chế mới chậm chạp và còn nhiều bất trắc. Nhưng dù sao những kinh nghiệm mà thành phố Hồ Chí Minh gặt hái được qua việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước bước đầu có giá trị thực tiễn và lý luận nhất định, đóng góp vào đường lối chung cho các giai đoạn phát triển tiếp sau, cụ thể là bổ sung vào nội dung nghị quyết Đại hội VI và Đại hội VII toàn quốc của Đảng, mở ra thời kỳ đổi mới, mở cửa nền kinh tế xã hội của đất nước và thành phố.
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đến nay.
Đại hội VI đánh dấu cột mốc quan trọng trên con đường đổi mới. Mục tiêu phát triển kinh tế được Đại hội VI hoạch định có thể khái quát:
– Chuyển từ nền sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa – tiền tệ, gắn sản xuất với thị trường.
– Chuyển từ nền kinh tế khép kín trong phạm vị một số nước mà phần lớn là cùng xu hướng chính trị sang nền kinh tế mở với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa kinh tế đối ngoại.
– Chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
– Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, với phương châm: “khuyến khích tư nhân đầu tư, kinh doanh trong những ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho quốc kế dân sinh, đồng thời đảm bảo sự kiểm soát và điều tiết của nhà nước, hướng tư bản tư nhân từng bước đi vào kinh tế hợp tác xã và kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế”.
Nhận thức mới trên đây đã tạo điều kiện thúc đẩy công cuộc đổi mới chính sách phát triển kinh tế theo mô hình tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh.
Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, đồng thời sắp xếp, củng cố kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, thực hiện quản lý theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương nhất quán của Đảng bộ và Chính quyền thành phố. Đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh theo hướng lấy hiệu quả (tính trên phạm vi toàn xã hội) làm biện pháp chủ yếu. Xác định rõ những ngành và lĩnh vực nhà nước cần tập trung đầu tư và thống nhất quản lý trực tiếp, đó là các hoạt động cần thiết cho xã hội mà thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn kinh doanh.
Nghiên cứu vận dụng các chính sách để xây dựng kinh tế tư bản nhà nước với quy mô và tốc độ phát triển nhanh: phát huy các hình thức hợp tác, liên doanh, liên kết giữa nhà nước với các thành phần kinh tế khác. Cổ phần hóa một số doanh nghiệp quốc doanh theo luật doanh nghiệp và luật công ty. Thành lập các tập đoàn sản xuất, kinh doanh lớn do quốc doanh chi phối để tạo sức mạnh mới, phát triển nhanh lực lượng sản xuất.
Tổ chức lại và tạo điều kiện cho kinh tế tập thể phát triển theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, bình đẳng trên cơ sở tổng kết thực tiễn, với những hình thức và quy mô thích hợp, làm ăn có hiệu quả thiết thực. Khuyến khích các hình thức hợp tác cung ứng dịch vụ, hợp tác từng phần trong sản xuất nông nghiệp, tổng kết và nhân rộng kinh nghiệm các hợp tác xã công, nông nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng làm ăn có hiệu quả. Khuyến khích kinh tế cá thể, tư bản tư nhân phát triển đúng luật pháp, hỗ trợ và tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển.
Sớm hình thành các công ty, doanh nghiệp, các hiệp hội, tập đoàn sản xuất kinh doanh theo ngành hoặc nhóm sản xuất có mạng lưới trên cả nước hoặc trong từng khu vực, có sự hợp tác liên kết với kinh tế với nước ngoài. Xác định các quy định cần thiết cho việc chuyển hình thức sở hữu, cho thuê hoặc giải thể các đơn vị kinh tế quốc doanh làm ăn thua lỗ kéo dài (có tính đến việc giải quyết các hậu quả về xã hội); giảm các thủ tục rườm rà gây phiền hà, trở ngại cho việc đầu tư và phát triển của các thành phần kinh tế, nhưng phải xác định đầy đủ các điều kiện cần có và chặt chẽ trong kiểm tra; kiên quyết xử lý những hiện tượng tiêu cực.
Kể từ Đại hội VI, có một số hình thức tư bản nhà nước tiêu biểu đã được vận dụng cụ thể ở thành phố Hồ Chí Minh:
Hình thức liên doanh, hợp doanh hợp tác thu hút vốn đầu tư nước ngoài; tô nhượng thành lập khu chế xuất, thành phố đang đi đầu tổ chức khá kết quả về mô hình này; cổ phần hóa – công ty hợp doanh; Doanh nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoài; tư nhân bỏ vốn ra sản xuất kinh doanh (trong đó việc cho tư nhân được mua bán vàng mà thành phố là địa phương mở đầu); cho tư bản thuê xí nghiệp, nhà xưởng v.v… tổ chức gia công, đại lý v.v…
Sự áp dụng hình thức tư bản nhà nước giai đoạn này nổi bật nhất là thực hành các biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu và thu được nhiều thành công nhất so với các địa phương khác trong cả nước. Bên cạnh đó, tình hình đầu tư của các nhà tư bản trong nước cũng có những bước phát triển quan trọng. Cả hai lĩnh vực đầu tư này bước đầu chiếm hơn 37% tỷ trọng so với GDP toàn bộ nền kinh tế thành phố năm 1994.
Trong quá trình phát triển, hầu hết các nhà đầu tư đều chấp hành tốt luật pháp của nhà nước, nhưng một số nơi cũng có hiện tượng bất chấp luật pháp như:
– Mua chuộc lũng đoạn cán bộ nhà nước
– Đầu tư chui.
– Chèn ép công nhân Việt Nam.
– Mua bán bất động sản trái phép, lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa.
– Khai man doanh thu để trốn thuế, ép giá công nhân, tăng giá đầu tư thiết bị trong liên doanh một cách vô tội vạ, làm cho phía đối tác Việt Nam bị thua thiệt, trong nhiều hợp đồng cán bộ Việt Nam thường ký “ hớ” làm tổn hại đến quyền lợi quốc gia.
– Về phía quản lý nhà nước còn nhiều sơ hở:
+ Chưa cân nhắc khi bố trí cán bộ ra làm kinh tế đối ngoại, đây là nguồn gốc xảy ra tiêu cực.
+ Thiếu kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ trong quá trình quản lý.
+ Luật lệ và chính sách nhà nước không nhất quán, còn nhiều sơ hở…
Một số kết luận có thể rút ra từ thực tiễn phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua:
1. Những thành quả bước đầu nêu trên cho chúng ta khẳng định việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước: về nội dung, phương thức, bước đi là đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của nước ta. Chúng ta đã vượt qua nhiều thử thách gian lao tưởng chừng không thể vượt qua được, đưa đất nước tiến lên thời kỳ mới, bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia và chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo tiền đề cho những bước phát triển tiếp theo tốt hơn.
2. Chủ nghĩa Mác – Lênin, nhất là học thuyết tư bản nhà nước của Lênin đã được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo, phong phú đa dạng trên cơ sở biết phối hợp mô hình tư bản nhà nước xã hội chủ nghĩa và mô hình tư bản nhà nước, vừa vận dụng nguyên lý Lênin kết hợp có chọn lọc các học thuyết, kinh nghiệm quản lý tiên tiến tư bản chủ nghĩa với truyền thống mở cửa của dân tộc.
– Chính sách đổi mới đầu tư mở cửa của ta bước dầu đem đến lợi ích thiết thực, tạo ra tiền đề quan trọng thực hiện thắng lợi con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó phát sinh hàng ngày hàng giơ, đầy rẫy khó khăn phức tạp, đặt đất nước trước những thử thách mới phải đương đầu mà Đại hội toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII đã tổng kết 4 nguy cơ: tụt hậu so với các nước xung quanh; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tham nhũng buôn lậu; âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch.
Qua nghiên cứu lý luận của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa tư bản nhà nước và quá trình vận dụng vào thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI cho đến nay (Đại hội X) cho ta những nhận xét tổng quát như sau:
– Chủ nghĩa tư bản nhà nước nó không chỉ là hình thức hay thành phần kinh tế mà nó đã thực sự trở thành quyết sách xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nó vừa là giải pháp tình thế mang tính sách lược, vừa là con đường chiến lược, để thu hút các thành phần kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội.
– Trong quá trình mở cửa hợp tác với các nước tư bản chủ nghĩa bên ngoài và mở rộng sự hoạt động của tư bản tư nhân trong nước, chủ nghĩa tư bản nhà nước là con đường chắc chắn đưa nền kinh tế nước ta đi đúng hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời tạo điều kiện giữ vững độc lập, tự chủ nước nhà, khắc phục nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và hạn chế khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa.
– Từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhất định phải đi qua con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước, đó là một tất yếu lịch sử. Ở nước ta, quá trình vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, chúng ta không chỉ vận dụng sáng tạo nguyên lý Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn tiếp nối truyền thống mở cửa của ông bà ta hơn 400 năm nay, mở đầu từ khu kinh tế Phố Hiến.
– Chủ nghĩa tư bản nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ nghĩa tư bản nhà nước có mối quan hệ thúc đẩy lẫn nhau.
– Chủ nghĩa tư bản nhà nước có khả năng tận dụng tất cả nguồn lực bên trong lẫn nguồn lực bên ngoài. Đây là phương thức có điều kiện thúc đẩy, phát huy nguồn lực bên trong với tư cách là nguồn lực chủ yếu và nguồn lực bên ngoài là rất quan trọng, cùng góp phần kích thích ban đầu cho nền kinh tế nội địa phát triển. Để nguồn lực bên trong đóng vai trò chủ yếu, nhà nước cần phải có nhiều chính sách thích đáng nhằm phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước; thông qua việc hoạch định chiến lược đầu tư, tạo mọi điều kiện cho chủ nghĩa tư bản nhà nước phát triển. Phát triển hình thức tư bản nhà nước giúp Nhà Nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động có điều kiện thuận lợi để kiểm soát và điều tiết kinh tế tư bản chủ nghĩa trong và ngoài nước theo quỹ đạo xã hội chủ nghĩa.
– Tuy nhiên, sự phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước phải trong khuôn khổ luật pháp và với những điều kiện nhất định. Phải bảo đảm trên thực tế sự phát triển các quan hệ thị trường và quan hệ tư bản chủ nghĩa cả trong và ngoài nước là không nguy hại cho định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển tư bản nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phải là nhân tố góp phần củng cố trận địa của chủ nghĩa xã hội.
Tóm lại, từ thực trạng vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua, đặc biệt từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI cho đến nay, có thể nêu ra một số nhận định.
Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến một bước khá dài trong quá trình vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước của Lênin vào hoàn cảnh thực tiễn của thành phố, đặc biệt trước khi có nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI. Quá trình vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là quá trình Đảng bộ và chính quyền thành phố dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong việc thể nghiệm mô hình kinh tế mới từ thấp lên cao, từ nhỏ đến lớn, đó cũng là quá trình kiên trì dũng cảm đấu tranh lâu dài để đảm bảo sự đoàn kết nhất trí ngày càng cao trong nội bộ từ trung ương đến địa phương về quan điểm sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước. Sự kiên trì đấu tranh đó thể hiện cả về phương diện lý luận để hướng dẫn hành động và cả trong chỉ đạo thực tiễn, nhằm làm sáng tỏ và bổ sung thêm cho lý luận, đồng thời không ngừng đấu tranh chống các quan điểm lệch lạc về chủ nghĩa tư bản nhà nước và chính sách kinh tế mới của Lênin.
Muốn vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước phải trải qua quá trình nghiên cứu công phu, nắm một cách có hệ thống nguyên lý của Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa tư bản nhà nước, đồng thời nghiên cứu kỹ quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản ở thành phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ lịch sử, cũng như nghiên cứu quá trình mở cửa của ông bà ta trước đây, từ đó mà đề ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội thông qua con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đó là vấn đề xuyên suốt trong nền kinh tế thành phố, là một động lực để thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển, nhằm thực hiện chiến lược đổi mới mở cửa và chủ động hội nhập hiện nay.
Tốc độ phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước vừa qua và sắp tới khá nhanh và diễn ra trên nhiều lĩnh vực, nhưng về quản lý ta chưa bao quát được, nhất là chưa luật hóa và chưa có các chính sách đồng bộ về chủ nghĩa tư bản nhà nước. Mặt khác, bộ máy và cán bộ quản lý chưa theo kịp với tốc độ phát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước đang diễn ra ở nước ta hiện nay. Vì vậy, luật hóa chủ nghĩa tư bản nhà nước, tăng cường và nâng cao về chất bộ máy cán bộ quản lý, cán bộ tham gia vào đối tác là yếu tố quyết định, đảm bảo đưa việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước đến thành công.
Trong điều kiện đổi mới mở cửa ngày càng sâu rộng như hiện nay chúng ta không chỉ có thuận lợi mà còn có cả không ít khó khăn phức tạp, vì vậy, việc vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước sắp tới đòi hỏi phải sáng tạo, linh hoạt, mạnh dạn hơn nữa, nhưng để chống nguy cơ chệch hướng và dành thế chủ động, phải bảo đảm nguyên tắc giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của cả hệ thống chính trị.
Thứ nhất: Tư bản nhà nước là mô hình thực sự hiệu quả, bảo đảm góp phần huy động mọi nguồn lực, ngăn chặn khuynh hướng tự phát, tạo thế và lực mới cho nền kinh tế chủ động hội nhập. Do đó, phải xem đây là hình thức trung tâm quan trọng nhất.
Thứ hai: Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước phải trên cơ sở các chủ trương chính sách của Đảng và luật pháp của nhà nước, phải giữ vững độc lập tự chủ, đảm bảo nền văn hóa dân tộc và bản sắc người Việt Nam và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba: Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước phải nhằm khai thác một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả mọi tiềm năng của thành phố để phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho người dân.
Thứ tư: Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước phải đảm bảo cho nền kinh tế thành phố phát triển nhanh, sớm đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm hòa nhập với nền kinh tế thế giới, xứng đáng vị trí trung tâm công nghiệp, khoa học kỹ thuật, văn hóa và giao dịch quốc tế của khu vực và cả nước.
Thứ năm: Phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước phải đảm bảo giữ gìn tốt môi trường của thành phố. Coi đây là nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội thành phố.
Tóm lại, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý Nhà nước xã hội chủ nghĩa là đường lối xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ, thực chất chính là quá trình vận dụng sáng tạo nguyên lý của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện mới, điều kiện hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa.
Phương hướng chung là tạo mọi điều kiện để phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước mạnh dạn hơn, triệt để hơn, một cách có nguyên tắc nhằm đưa nền kinh tế xã hội thành phố và cả nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, cần mạnh dạn mở rộng phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố hơn nữa trong các ngành công nghiệp (gồm cả dầu khí), nông nghiệp, thương nghiệp, xuất khẩu, tài chính ngân hàng,… và trên lĩnh vực sản xuất – kinh doanh – dịch vụ. Trong đó, về quản lý vĩ mô phải nắm cho được đỉnh cao của ngành tài chính, ngân hàng, tiền tệ tín dụng, giá cả… Coi đó là công cụ chủ yếu để kiểm soát và điều tiết các thành phần kinh tế vào quỹ đạo xã hội chủ nghĩa. Khuyến khích phát triển nhiều loại hình chủ nghĩa tư bản nhà nước trên địa bàn thành phố chủ yếu là hình thức:
* Mở rộng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng kế hoạch (kết hợp kế hoạch với thị trường) và các công cụ kinh tế khác của Nhà nước.
* Sử dụng phổ biến hình thức hợp tác, liên doanh liên kết với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Ở đây, một mặt cần khuyến khích mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng cần chú ý mạnh mẽ tới sự hợp tác liên doanh với các nhà đầu tư trong nước trên cơ sở bình đẳng, tận dụng phát huy vai trò và năng lực của họ trên tinh thần hợp tác lâu dài.
* Sử dụng có trọng tâm trọng điểm hình thức tô nhượng trong đó có phát triển hình thức 100% vốn nước ngoài thông qua mô hình khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung, khu công nghệ cao, hình thức BOT…
* Phát triển ở diện rộng và quy mô lớn các loại hình công ty cổ phần trên cơ sở cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh, cổ phần hóa các doanh nghiệp tư nhân có sự góp vốn Nhà nước ở các ngành và lĩnh vực hoạt động cần thiết quan trọng, trong đó kinh tế nhà nước phải nắm giữ vị trí chi phối.
* Sử dụng rộng rãi các loại hình chủ nghĩa tư bản nhà nước hợp tác xã trong tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, thương nghiệp, tín dụng nhằm lôi cuốn tập hợp hàng triệu tiểu chủ, tiểu thương, tiểu nông vào quỹ đạo xã hội chủ nghĩa.
* Cho tư bản tư nhân trong nước phát triển mạnh dưới sự kiểm kê kiểm soát của Nhà nước với nhiều chính sách ưu đãi theo luật khuyến khích đầu tư trong nước, góp phần cùng với doanh nghiệp Nhà nước tạo nội lực cho nền kinh tế.
* Vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức cho thuê nhà cửa, đất đai, doanh nghiệp, nhà xưởng cho nhà đầu tư trong và ngoài nước; cho nông dân thuê ruộng đất để canh tác, sản xuất ở quy mô sản xuất hàng hóa ổn định và lâu dài.
* Cho tư nhân làm đại lý ủy thác hoặc ký gửi cho các doanh nghiệp Nhà nước hay đấu thầu các công trình xây dựng.
* Tổ chức cho tư nhân cá thể làm gia công cho các doanh nghiệp Nhà nước.
* Sử dụng đội ngũ chuyên gia tư bản trong nước và ngoài nước, coi đó là nhân tố quan trọng để thực hiện thắng lợi mô hình vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Cần triệt để vận dụng phương châm Nhà nước nhân dân cùng góp vốn, cùng đầu tư, cùng chia lãi, trên nguyên tắc lời ăn lỗ chịu dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau. Đối với kiều bào ở nước ngoài, cần có chính sách khuyến khích để họ tích cực phát huy đầu tư chất xám, khoa học kỹ thuật, giáo dục, thông tin, thị trường. Khuyến khích hình thức làm đại lý cho các công ty ở trong nước.
Sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là mở ra một hình thức mới, với phương thức và quy mô mới hoàn toàn không có tiền lệ trong lịch sử Việt nam. Ở đây yếu tố độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội phải hòa quyện vào nhau trong mỗi bước đi của thời kỳ đổi mới mở cửa.
Chúng ta cần nắm vững tư tưởng cơ bản của đường lối nhưng đồng thời phải có sách lược phù hợp. Có người cho rằng khi chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế thị trường (nhất là khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại Mỹ vào WTO và các Hiệp định song phương đa phương với các nước tư bản phát triển) tất yếu phải trở lại chế độ tư bản chủ nghĩa, phải tư nhân hóa nền kinh tế. Có nghĩa là phải từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản như một số nước đã làm trong tình thế cực kỳ khó khăn nguy hiểm và hậu quả khôn lường. Điều đó là hoàn toàn không đúng.
Chính sách đổi mới dựa trên những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, mà cụ thể là nội dung của NEP và mô hình vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, đã từng bước đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, thoát khỏi đói nghèo tỏa sáng như một điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư quốc tế. Mô hình vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh là một minh chứng đúng đắn của đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng. Mô hình này đã góp phần giữ vững vị thế thành phố tốp đầu của vùng kinh tế động lực phía Nam. Thành phố tốp đầu của cả nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Posted by: admin | October 24, 2008

Chương 4

KHU CHẾ XUẤT TÂN THUẬN – BƯỚC ĐỘT PHÁ TRONG VẬN DỤNG MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC

Khu chế xuất Tân Thuận là khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam, được thành lập theo quyết định 394/CT ngày 25-11-1991.
Khu chế xuất Tân Thuận rộng 300ha, nằm trên bán đảo Tân Thuận thuộc huyện Nhà Bè (nay là quận 7) thành phố Hồ Chí Minh. Tân Thuận nguyên là vùng đất ngập mặn, nền đất yếu, đầu tư xây dựng hạ tầng tốn kém. Với vị trí cách trung tâm thành phố (quận 1) khoảng 4km, thuận tiện cho việc vận tải đường bộ, đường hàng không, đường biển, lại gần khu trung tâm của năm quận nội ngoại thành nên nguồn cung ứng lao động dồi dào. Các yếu tố này đã tạo nên ưu thế lâu dài cho khu chế xuất Tân Thuận.
Công ty liên doanh xây dựng khu chế xuất Tân Thuận được thành lập theo quyết định số 245/CP, ngày 24-9-1991 với tổng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là 89 triệu USD. Vốn pháp định là 21 triệu USD do các bên liên doanh đóng góp bao gồm:
– Phía Việt Nam: Công ty phát triển công nghiệp Tân Thuận chiếm 30% bằng quyền sử dụng đất 300ha.
– Phía Đài Loan: Công ty Cenral Trading Development chiếm 70% bằng ngoại tệ, thiết bị…
Sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng, đường xá, kho tàng, bến bãi, công viên, cây xanh, ký túc xá, các tiện nghi tiện ích công cộng… đất còn lại để xây dựng xí nghiệp khoảng 210ha, có thể chứa từ 200 – 250 xí nghiệp, cỡ vừa và nhỏ chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có thể thu hút khoảng 1 tỉ USD đầu tư của nước ngoài vào khu chế xuất, giải quyết được 70.000 – 90.000 công ăn việc làm, tạo ra doanh số xuất nhập từ 5 – 6 tỉ USD Mỹ trong 5 – 10 năm tới.
Mô hình khu chế xuất là một mô hình mới lạ đối với nền kinh tế nước ta, trong thời kỳ đầu thực hiện chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài (1989). Khi ấy luật lệ của ta chưa đầy đủ, hạ tầng cơ sở thiếu thốn (thiếu điện, thiếu nước), người nước ngoài còn nhìn xã hội ta một cách thăm dò. Trong khi đó ta cũng chưa am tường nhiều về nền kinh tế thị trường, nhất là kinh nghiệm hợp tác đầu tư với nước ngoài, cũng như kinh nghiệm tham gia vào nền kinh tế thế giới. Mặt khác dư luận trong nước đối với việc xây dựng một khu công nghiệp chuyên cho nhà đầu tư nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó việc xây dựng khu chế xuất lúc bấy giờ không thật dễ dàng.
Bảy năm tuy là một thời gian ngắn, nhưng với quá trình xây dựng khu chế xuất Tân Thuận, phải từng bước vượt qua nhiều khó khăn, từ việc nghiên cứu đề án cho đến việc hình thành các quy chế pháp lý, tìm đối tác đầu tư hạ tầng, tìm vốn, tìm khách hàng, cho đến việc chọn địa điểm, tiến hành giải tỏa đất, di dời dân, chọn phương pháp xây dựng hạ tầng, chọn phương thức kinh doanh… Cả khối công việc mới mẻ đó trong bảy năm qua đã từng bước hoàn tất và dần dần hình thành nên khu chế xuất Tân Thuận ngày hôm nay.
Vùng đất vũng lầy, ngập mặn, nghèo khổ của xã Tân Thuận Đông không còn nữa, đổi lại là một khu công nghiệp khang trang tiếp tục xây dựng thêm những khu công nghiệp khác, có thể tham khảo, rút kinh nghiệm nhằm tránh những vấp váp, lãng phí. Đó chính là những nhân tố giúp các khu công nghiệp, khu chế xuất xây dựng sau này thành công và hiệu quả hơn.
1- QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU HÌNH THÀNH KHU CHẾ XUẤT TÂN THUẬN
Ngày 29-12-1987, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đánh dấu một bước ngoặt mới trong tiến trình đổi mới và mở của nền kinh tế do Đảng và Nhà nước khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986. Bộ luật được dư luận quốc tế đánh giá là khá cởi mở và nhân dân trong nước vui mừng đón nhận. Trong niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai tươi sáng của đất nước, vài tháng sau khi Bộ luật ra đời, nhóm chuyên viên kinh tế đệ trình lên lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh bản nghiên cứu “Đề cương thành lập khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh” (5-1988) nhằm cụ thể hóa một số biện pháp góp phần thúc đẩy luật đầu tư đi vào cuộc sống. Bản đề cương giới thiệu mô hình khu chế xuất, khu mậu dịch tự do, đặc khu kinh tế v. v… trên thế giới cùng những kinh nghiệm thành công và thất bại của một số khu công nghiệp tại các nước trên. Bản đề cương cũng phân tích một số điều kiện thuận lợi của thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất lãnh đạo cho xúc tiến nghiên cứu dự án thành lập một khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh.
Bản đề cương được lãnh đạo thành phố rất quan tâm, do đó đề tài “Nghiên cứu xây dựng khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh” được ghi vào danh mục các đề tài nghiên cứu trong “Chương trình phát triển kinh tế đối ngoại của thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 1989 – 1995 và những năm tiếp theo” (Thông báo số 30/TB-UB ngày 07-03-1989 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh).
Vì phải thực hiện trong thời gian ngắn, nên đề tài chỉ chú trọng đến những điều kiện “mềm”, tức là những vấn đề liên quan đến nội dung hoạt động kinh tế và các vấn đề pháp lý của khu chế xuất. Còn việc nghiên cứu các điều kiện “cứng” liên quan đến địa điểm khu chế xuất, nguồn cung cấp lao động, vật tư, nguyên liệu, điện, nước, thông tin liên lạc, giao thông vận tải cùng tất cả các cơ sở hạ tầng xây dựng trong và kế cận khu chế xuất… sẽ thực hiện sau vì cần có nhiều điều kiện và thời gian hơn.
Sau khi đề tài nghiên cứu được Ban chuyên môn góp ý và thành phố chấp thuận, lãnh đạo thành phố cho thành lập một tổ chức lấy tên là Chương trình khu công nghiệp xuất khẩu Tân Thuận, với nhiệm vụ nghiên cứu soạn thảo dự án thành lập khu chế xuất (lúc bấy giờ được gọi là khu công nghiệp xuất khẩu Tân Thuận), cùng với những văn bản kiến nghị Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành chủ trương, chế độ về khu chế xuất, đồng thời tìm đối tác liên doanh xây dựng cơ sở hạ tầng.
Trong khi nghiên cứu xây dựng dự án, nhóm soạn thảo quan tâm nhiều đến các vấn đề cốt lõi dưới đây:
Đặc điểm, lợi ích và mục tiêu hoạt động của khu chế xuất Tân Thuận:
Mỗi mô hình khu chế xuất của từng nước tại Châu Á và trên thế giới có điểm đặc thù riêng, nhưng tựu trung đều nhắm đến các mục tiêu và lợi ích cơ bản như sau:
– Mục tiêu chung của các khu chế xuất là thu hút đầu tư nước ngoài bằng một hệ thống ưu đãi đặc biệt so với khung luật lệ chung hiện hành trong nước; du nhập kỹ thuật công nghệ mới và phương pháp quản trị kinh doanh tiên tiến của nước ngoài; phát triển hàng xuất khẩu và tiếp cận thị trường quốc tế; tạo công ăn việc làm cho công nhân địa phương.
– Y tế xã hội: giải quyết nạn thất nghiệp; cải thiện bộ mặt xã hội trong khu vực.
– Kinh tế: khắc phục tình trạng thiếu vốn trong nước bằng cách bổ sung vốn nước ngoài để tăng sản xuất, xuất khẩu và thúc đẩy nền kinh tế nội địa phát triển theo.
– Tài chính: Nhà nước có thêm thu nhập thuế và ngoại tệ; người lao động có thêm thu nhập lương, nhờ đó tăng tiêu dùng và tiết kiệm.
– Quản lý: học tập kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các nước tiên tiến.
– Khoa học kỹ thuật: tiếp cận và học tập phương pháp sản xuất với công nghệ mới du nhập từ nước ngoài, nhờ đó đào tạo được lực lượng công nhân có trình độ và tay nghề cao.
Khu chế xuất Tân Thuận cũng không đi ra ngoài các mục tiêu và lợi ích tổng quát kể trên. Nhưng khu chế xuất Tân thuận có một ý nghĩa đặc biệt là khu chế xuất đầu tiên của cả nước, được dùng làm thí điểm cho một mô hình mới để từ đó rút kinh nghiệm và triển khai trên phạm vi toàn quốc.
* Các điều kiện tiên quyết để hình thành khu chế xuất.
Để có thể đưa vào áp dụng một mô hình mới như khu chế xuất, có vô số vấn đề cần phải giải quyết. Dưới đây chỉ xin lược ra các điều kiện then chốt nhất:
Môi trường đầu tư.
Sau một thời gian thực hiện chính sách đổi mới và kêu gọi đầu tư. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” vào ngày 29-12-1987, đây là một bộ luật tương đối cởi mở và là cơ sở pháp lý làm an tâm phần nào các nhà đầu tư nước ngoài.
Tiếp đó, nghị định 139/HĐBT ngày 5-9-1988 cũng là một văn kiện pháp lý quan trọng vì nó quy định cụ thể việc thi hành luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Hai văn kiện pháp lý trên đây đã tạo ra một môi trường tương đối thuận lợi hơn cho đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Sự quan tâm của chính quyền địa phương.
Do nhu cầu phát triển, lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến mô hình khu chế xuất và đề tài đã được đưa vào “Chương trình phát triển kinh tế đối ngoại của thành phố 1989 – 1995”, như là một đề án phát triển kinh tế trọng điểm của địa phương.
Trong quá trình nghiên cứu dự án, báo cáo với Trung ương hoặc đàm phán với các đối tác, lãnh đạo thành phố luôn luôn chỉ đạo và hỗ trợ kịp thời.
* Chọn địa điểm xây dựng khu chế xuất.
Chọn địa điểm là khâu quan trọng hàng đầu vì chọn sai địa điểm thì sự thất bại gần như là đương nhiên đối với một khu chế xuất. Địa điểm của một khu chế xuất phải được chọn theo các tiêu chuẩn sau đây:
– Giao thông phải thuận lợi về đường bộ, đường thủy, hàng không.
– Kế cận một khu đông dân cư, có đầy đủ các trường đại học và kỹ thuật có thể cung cấp đầy đủ lao động phổ thông, lao động tay nghề và cán bộ quản lý.
– Đã có cơ sở hạ tầng như: điện, nước, thông tin liên lạc đáp ứng được nhu cầu.
– Về địa chất công trình: không quá tốn kém trong việc cải tạo đất.
– Địa điểm phù hợp với quy hoạch phát triển vùng kế cận.
– Việc giải tỏa đất, di dời dân không phải là một gánh nặng trong các chi phí đầu tư.
Từ những tiêu chuẩn trên, dự án đã đề nghị chọn xã Tân Thuận Đông, huyện Nhà Bè làm địa điểm xây dựng khu chế xuất Tân Thuận.
* Vấn đề vốn.
Thông thường vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng rất lớn mà khả năng thu hồi vốn lại rất chậm, cho nên không thích hợp cho đầu tư tư nhân. Ở các nước khác, thì Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhưng vào thời điểm 1989 Nhà nước ta với nhiều chương trình ưu tiên cần thực hiện nên không thể cấp vốn đầu tư vào khu chế xuất được. Việc vay vốn ngân hàng để đầu tư vào khu chế xuất cũng không phải là giải pháp khả thi vì lãi suất ngân hàng lúc đó quá cao (trên 24%/năm). Ngay cả khi khu chế xuất hoạt động tốt-nghĩa là có đủ khách hàng thì lợi tức thu được cũng không gánh nổi lãi suất vay quá cao của ngân hàng.
* Vấn đề khách hàng.
Theo kinh nghiệm thành công và thất bại của các khu chế xuất tại các nước Châu Á. Để có thể tồn tại và phát triển, một khu chế xuất phải đảm bảo có khách hàng thuê tối thiểu ¼ đất trong khoảng 3 năm đầu tiên hoạt động. Khách hàng vào khu chế xuất, không phân biệt quốc tịch, ngành hàng sản xuất, cùng có một điều kiện tiên quyết là giá thành cuối cùng của một đơn vị sản phẩm của họ phải thấp hơn sản phẩm cùng chất lượng mà họ có thể sản xuất ở một nơi khác. Giá thành cuối cùng của một đơn vị sản phẩm không phải là giá thành xuất xưởng của đơn vị sản phẩm mà là giá thành tổng hợp trong đó có giá thành xuất xưởng cộng với các chi phí bên ngoài xí nghiệp: môi sinh môi trường, chi phí di chuyển, các yếu tố rủi ro.v.v… Như vậy, có nghĩa là muốn thu hút khách hàng, một khu chế xuất phải có các điều kiện để các yếu tố cấu thành chi phí sản xuất và chi phí bên ngoài thấp hơn nơi khác.
* Vấn đề quản lý – kinh doanh khu chế xuất.
Đây cũng một vấn đề khó giải quyết. Thực tế chúng ta hoàn toàn không có kinh nghiệm trong việc điều hành một khu chế xuất theo đúng yêu cầu, vì mô hình này quá mới mẻ đối với chúng ta. Ngoài ra, vấn đề thu hút đầu tư, các biện pháp thu hút đầu tư và làm thế nào để khu chế xuất luôn là nơi hấp dẫn các nhà đầu tư… cũng là những vấn đề cần có thời gian để học hỏi.
Vì những lý do trên nên chúng tôi nghĩ rằng, đáp án của bài toán là liên doanh với nước ngoài trên các điều kiện căn bản sau đây:
– Vốn trong nước chủ yếu là quyền sử dụng đất
– Vốn nước ngoài gồm ngoại tệ, thiết bị kỹ thuật
– Bên Việt Nam sẽ đảm nhận các vấn đề trong nước như: thủ tục, quan hệ, pháp chế v.v…
– Bên nước ngoài có trách nhiệm vận động thu hút khách hàng nước ngoài với sự tham gia góp ý của phía Việt Nam.
* Chọn đối tác nước ngoài để liên doanh.
Như đã phân tích, chúng ta có những khó khăn nhất định trong việc xây dựng và kinh doanh một khu chế xuất. Do đó, đối tác nước ngoài muốn được lựa chọn tối thiểu phải có những tiêu chuẩn đáp ứng được nhu cầu của ta như:
– Có khả năng tài chính.
– Có kinh nghiệm trong việc xây dựng hạ tầng và quản trị kinh doanh khu chế xuất hay khu công nghiệp.
– Có thiện chí làm ăn lâu dài.
– Có khả năng thu hút khách hàng vào đầu tư.
Các yêu cầu trên đây sẽ được làm sáng tỏ qua quá trình đàm phán và tìm hiểu nhau. Công việc đàm phán phải qua nhiều công đoạn, thảo luận từ nguyên tắc đến cụ thể như hình thức hợp tác, tỷ lệ góp vốn, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên, vấn đề nhân sự, phương thức điều hành…
Ta đã áp dụng kỹ thuật đàm phán để vừa đạt được mục đích của ta vừa tỏ thiện chí cũng như trách nhiệm và mong muốn tạo điều kiện gắn bó với đối tác khi thực hiện hợp đồng liên doanh sau này.
Tất cả các điểm chủ yếu trong các buổi làm việc đều được thể hiện trên hợp đồng liên doanh. Các hoạt động phối hợp, đàm phán vẫn phải tiếp tục trong quá trình lập luận chứng kinh tế- kỹ thuật. Điều lệ công ty liên doanh, kế hoạch kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý… Đối với dự án khu chế xuất Tân Thuận, nhóm nghiên cứu đã đưa ra đề án sơ bộ cho cả chục đoàn làm việc, ký nhiều “Bản ghi nhớ” và phải mất gần hai năm mới xác định được đối tác có thể thỏa mãn các yêu cầu của ta.
2- CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
Dưới đây xin nêu một số biện pháp cụ thể chủ yếu trong hàng loạt biện pháp tiến hành để biến dự án thành hiện thực.
* Hình thành bộ máy nhân sự công ty liên doanh.
Về phía Việt Nam, Ủy ban nhân dân thành phố đề cử các cán bộ chủ chốt đã tham gia từ đầu việc nghiên cứu và chuẩn bị dự án vào Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc Công ty liên doanh. Các chuyên viên khác trong nhóm nghiên cứu dự án tiếp tục công tác tại công ty phát triển công nghiệp Tân Thuận và tham mưu cho đối tác Việt Nam về những vấn đề nghiệp vụ phát sinh trong quá trình hoạt động của Công ty liên doanh. Về mặt quản lý Nhà nước, các quan chức từng theo dõi dự án được bổ nhiệm vào ban quản lý khu chế xuất.
Bên nước ngoài cũng đề cử những nhân viên và chuyên viên cũ (đã tham gia đàm phán và chuẩn bị dự án) vào các cương vị chủ chốt trong Công ty liên doanh.
Như vậy, liên tục trong công tác từ lúc chuẩn bị cho đến khi thực hiện dự án (2 năm) đã giúp cho bộ máy và quản lý điều hành khỏi tốn thời gian tìm kiếm nắm bắt công việc chung. Với sự hỗ trợ của ban quản lý, công ty liên doanh ngay từ đầu đã hoạt động khá trôi chảy.
* Vấn đề giải phóng mặt bằng.
Việc giải tỏa, đền bù, di dời là vấn đề hóc búa nhất vì nó đụng chạm đến quyền lợi và đời sống của nhân dân, đặc biệt là cư dân nông thôn. Đây cũng là mối bận tâm hàng đầu của chính quyền các cấp.
Kinh nghiệm cho thấy, chúng ta cần đặt công tác giải phóng mặt bằng lên hàng ưu tiên đồng thời rất cần phải có những bước đi và biện pháp thích hợp:
– Cần ổn định mặt bằng giá đất ngay từ đầu khi đã quyết định chọn địa điểm (không chờ đến khi có giấy phép đầu tư) bằng cách thông báo phạm vi khu vực đã quy hoạch và nghiêm cấm mọi việc mua bán, sang nhượng đất nhằm tránh nạn “cò đất” đầu cơ nâng giá đất.
– Thành lập ban chỉ đạo giải tỏa với thành phần đủ mạnh để xúc tiến các việc cần làm ngay như:
Dự thảo chính sách giải tỏa, đền bù, tái định cư các hộ dân, trình cấp thẩm quyền phê duyệt và ban hành. Cần có sự hợp tác của giới truyền thông đại chúng để họ thông hiểu chính sách và giúp tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành.
Lập phương án giải tỏa chi tiết để nắm bắt ngay từ đầu khối lượng công việc và dự toán chi phí đền bù và tái định cư.
Thực hiện chính sách giải tỏa một cách mềm dẻo (giải quyết thỏa đáng những trường hợp chính đáng) vừa cương quyết (xử lý dứt điểm những vụ việc bất hợp lệ, kháng lệnh…)
* Xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu.
Công ty liên doanh Tân Thuận không tự xây dựng hạ tầng mà áp dụng phương thức đấu thầu công khai để chọn ra các công ty, xí nghiệp xây dựng có năng lực và kinh nghiệm thi công.
Về mặt tổ chức nội bộ, công ty liên doanh có phòng xây dựng ( phòng công trình) quy tụ nhiều chuyên viên, kỹ sư ngành xây dựng (cầu, đường, điện, nước, kiến trúc, cây xanh…).
Trên cơ sở quy hoạch chi tiết toàn khu. Ban tổng giám đốc công ty liên doanh ấn định thứ tự các công trình cần phải thực hiện và phòng xây dựng chia công trình thành nhiều hạng mục, tính toán khối lượng và giá phí để làm nền tảng cho việc gọi thầu. Đối với những hạng mục công trình quan trọng, công ty liên doanh thuê các đơn vị có chức năng thiết kế và thuê công ty giám định kiểm tra, giám định chất lượng thi công của các nhà thầu. Như vậy, việc quản lý xây dựng được chặt chẽ hơn.
* Phối hợp xây dựng hạ tầng bên ngoài khu.
Khi đã xác định địa điểm diện tích và tính chất của khu chế xuất cần phải quy hoạch vùng lân cận nối kết hạ tầng với khu chế xuất một cách đồng bộ như giao thông, điện, nước, xử lý rác thải,… đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể cho từng ngành để phối hợp đồng bộ.
Về vấn đề này khu chế xuất Tân Thuận đã gặp nhiều khó khăn trì trệ.
* Kế hoạch tiếp cận thị trường.
Ngay sau khi hình thành công ty liên doanh, kế hoạch tiếp cận thị trường được triển khai càng sớm càng tốt, song song với kế hoạch xây dựng. Về phía đối tác nước ngoài, trước khi ký hợp đồng liên doanh, họ đã tiếp xúc thăm dò thị trường bên ngoài và đã có danh sách một số khách hàng có ý định đầu tư vào khu chế xuất. Như vậy, phần tiếp thị của công ty liên doanh hoạt động rất sớm, phải tiếp xúc ngay từng khách hàng một với đầy đủ thông tin cơ bản mà khách hàng cần biết rõ ràng như thủ tục, biểu mẫu xin đầu tư, thuê đất, giá đất và các loại phí khác trong khu chế xuất, giá điện, nước, cước phí vận chuyển, biểu thuế xuất, khả năng cung cấp các dịch vụ khác như xây lắp, mức giá sinh hoạt địa phương.v.v… Bộ phận tiếp thị còn giúp khách hành tính toán đầy đủ các giá phí đầu vào để chứng minh rằng, họ đầu tư vào khu chế xuất Tân Thuận thì không những hạ được giá thành sản phẩm mà còn có nhiều lợi ích hơn so với đầu tư ở những nơi khác.
Nói chung, phải làm cách nào đó khi bắt đầu xây dựng hạ tầng, phải có trong tay từ 5 – 10% tổng số khách dự kiến thu hút vào khu chế xuất thì mới bảo đảm đủ điều kiện để có thể yên tâm xây dựng. Đây là khâu có ý nghĩa rất quan trọng.
* Các biện pháp cụ thể để thu hút đầu tư.
Công ty liên doanh đề ra một chiến lược thu hút đầu tư thích hợp với từng giai đoạn cụ thể:
– Lúc ban đầu, đưa ra biểu giá thuê đất hấp dẫn và sau đó sẽ nâng dần lên (trong nước chấp nhận được) để tạo ra tâm lý là ai đến trước sẽ lợi hơn người đến sau. Tuyệt đối không đưa ra giá cao sau đó giảm xuống.
– Sử dụng phương tiện quảng cáo có mục tiêu rõ ràng nhằm vào đối tượng khách hàng đã dự kiến, không quảng cáo tràn lan, chung chung.
– Khi nhắm vào khu vực nào, nước nào, lãnh thổ nào, thì dùng người tại chỗ có uy tín và kinh nghiệm tuyên truyền vận động đầu tư tại địa phương đó, như dùng người Nhật cho thị trường Nhật, người Hồng Kông cho thị trường Hồng Kông, người Đài Loan cho thị trường Đài Loan.
– Tổ chức các buổi hội thảo, thuyết minh ngay tại các nước mà công ty liên doanh dự kiến thu hút khách hàng. Nội dung và hình thức giới thiệu, thuyết trình phải được chuẩn bị thật chu đáo và phải tạo được các yếu tố tích cực tại chỗ.
– Phải có bộ phận dịch vụ hỗ trợ khách hàng ngay khi họ đồng ý thuê đất để đầu tư, giúp đỡ họ làm thủ tục, chọn thầu xây dựng, đăng ký điện, nước, điện thoại,… cho đến khi họ hình thành được xí nghiệp và đi vào hoạt động. Tuyệt đối tránh tình trạng làm trung gian kiếm lời trong dịch vụ này hoặc để xẩy ra hiện tượng tiêu cực, gây phiền hà cho khách hàng.
– Đối với khách hàng đã đi vào hoạt động, cần tiếp tục theo dõi và hỗ trợ họ kịp thời khi họ có khó khăn hoặc có nhu cầu giải quyết về một số vấn đề nào đó. Nếu họ hoạt động tốt, mang lại lợi nhuận thì chính họ sẽ giúp ta tuyên truyền có hiệu quả nhất và thu hút được khách mới một cách ít tốn kém nhất. Nếu những nhà đầu tư tiên phong gặp quá nhiều khó khăn hay thất bại sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến khu chế xuất vì khi đó mọi tuyên truyền vận động thu hút đầu tư trở nên vô hiệu (người ta thường nói: “thượng đế chỉ nghe qua thổ địa để đánh giá lời hứa hẹn của chủ nhà”).
– Một trong các kỹ xảo để thu hút đầu tư là, nếu cần, từng đối tác trong công ty liên doanh tự bỏ vốn để thuê đất và xây dựng xí nghiệp trong khu chế xuất để kích thích và lôi kéo các khách hàng khác đến đầu tư.
– Trong quá trình lao động, không ngừng cải tiến quy trình phục vụ và chế độ quản lý nhằm đáp ứng cao nhất các yêu cầu của các nhà đầu tư, như vậy làm cho khu chế xuất luôn luôn là điểm đầu tư hấp dẫn nhất.
* Vấn đề đào tạo cán bộ và công nhân cho khu chế xuất.
Đây là một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu góp phần mang lại thành công cho khu chế xuất. Chương trình đào tạo nghiệp vụ – tay nghề cho cán bộ công nhân làm việc trong khu chế xuất bao gồm:
– Huấn luyện nghiệp vụ cho cán bộ công ty liên doanh ở tất cả bộ phận, công đoạn để họ có khả năng thực hiện có hiệu quả từng nhiệm vụ được phân công, kể cả về khả năng ngoại ngữ.
– Kết hợp với địa phương thành lập trường đào tạo viên chức quản lý và công nhân sản xuất theo tiêu chuẩn mà khách hàng thường yêu cầu, không đào tạo chung chung. Không ép khách hàng sử dụng những người mà ta có sẵn, nhưng không có trình độ hoặc có trình độ mà không phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
Nói chung ta chỉ đào tạo và giới thiệu lao động còn tuyển dụng là quyền khách tự quyết định.
Đưa các cán bộ chủ chốt đến các khu chế xuất đã hoạt động tốt để thực tập ngay trên quy trình điều hành (1 – 2 tháng). Tuy nhiên, việc này không dễ dàng thực hiện được vì các khu chế xuất ở các nước sở tại không dễ chấp nhận nếu chúng ta không có mối quan hệ đặc biệt với họ.
* Vấn đề giá phí cấu tạo giá thành sản phẩm.
Ngoài phí thuê đất và phí sử dụng cơ sở hạ tầng, khách hàng còn phải tiêu tốn cho các loại phí khác như thủ tục phí, lệ phí, cấp giấy phép từng vụ việc, có khi có cả các khoản quyên góp xã hội v.v…
Cần xác định rõ ngay từ ban đầu các loại và mức phí hợp lý để khách hàng có thể tính toán đầy đủ giá thành sản phẩm. Ta không nên áp đặt những loại phí không liên quan đế hoạt động của doanh nghiệp. Những năm đầu khi xí nghiệp hoạt động chưa có lãi, tránh tình trạng quyên góp xã hội. Về sau nếu có quyên góp thì phải trên cơ sở tự nguyện của ho, tuyệt đối không được áp đặt.
* Các điều kiện sinh hoạt khác của nhà đầu tư.
Khi một nhà đầu tư đến một nơi xa lạ, vấn đề an ninh được họ đặt lên hàng đầu. Ngoài ra, các điều kiện sinh hoạt của họ cũng ảnh hưởng đến quyết định việc đầu tư hay không. Thông thường các nhà đầu tư rất cần dựa vào những người địa phương thân tín, do đó Chính phủ phía đối tác phải tận tình hỗ trợ họ ngay từ ban đầu.
Thường các cán bộ đầu tiên do công ty mẹ gửi đến nghiên cứu tìm hiểu cơ hội đầu tư sẽ được cử vào bộ máy liên doanh hay đảm trách cương vị chủ chốt tại văn phòng địa phương. Nếu những người này cảm thấy bất an, thiếu sự hỗ trợ tại chỗ, sinh hoạt không thuận tiện hoặc bản thân họ không muốn xa nhà lâu dài, thì bản báo cáo đánh giá chuyến khảo sát sẽ không có lợi cho việc đầu tư. Vì vậy, cung cách và bầu không khí giao tiếp với khách hàng rất quan trọng. Nếu ta tạo cho họ những điều kiện thoải mái và cho thấy họ sẽ gặp nhiều thuận lợi khi đầu tư vào đây, thì kết quả vận động sẽ rất tích cực. Đôi khi công ty mẹ không đầu tư, nhưng chính bản thân họ sẽ tự đứng ra lập doanh nghiệp để tạo dựng sự nghiệp riêng tại nước ta. Điều này đôi khi còn có hiệu quả hơn là lời quảng cáo đơn thuần.
* Cơ chế dịch vụ một cửa.
Ban quản lý các khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh với những chức năng quy định tại quy chế khu chế xuất (ban hành kèm theo nghị định 322/HĐBT ngày 18-10-1991) và sự ủy quyền của các Bộ (thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại thông báo 22/TB ngày 04-02-1993 của văn phòng Chính phủ) đã cùng các tổ chức chuyên ngành tại khu chế xuất thực hiện công việc quản lý nhà nước đối với các xí nghiệp khu chế xuất theo cơ chế “dịch vụ một cửa”. Những công việc thuộc chức năng và thẩm quyền của các cơ quan chuyên ngành ngoài khu chế xuất thì ban quản lý làm đầu mối để đưa các cơ quan đó vào làm việc trong khu chế xuất khi cần. Đến nay, hầu như nhà đầu tư chỉ cần gặp ban quản lý là có thể giải quyết các công việc về thủ tục đầu tư thành lập xí nghiệp, xây dựng nhà xưởng, đưa xí nghiệp vào sản xuất và các hoạt động khác của xí nghiệp. Ban quản lý rút ngắn thời gian giải quyết công việc, chẳng hạn việc thẩm định các dự án và cấp giấy phép đầu tư chỉ giải quyết trong 10 ngày (trừ những dự án cần có giải trình thêm của nhà đầu tư theo yêu cầu của hội đồng thẩm định).
Những việc thuộc về thuê đất, cấp điện, cấp nước…, nhà đầu tư cũng chỉ cần gặp công ty liên doanh xây dựng và kinh doanh khu chế xuất để ký hợp đồng, không phải làm việc với bất kỳ cơ quan nào khác.
3- DOANH NGHIỆP 100% VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI – MÔ HÌNH THỂ NGHIỆM CHÍNH SÁCH TÔ NHƯỢNG CỦA LÊNIN Ở VIỆT NAM
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong khu chế xuất là bước phát triển sáng tạo việc vận dụng hình thức tô nhượng của Lênin ở Việt Nam. Tại khu chế xuất Tân Thuận, lần đầu tiên nhà nước áp dụng hình thức cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất trong thời gian 50 năm để đầu tư phát triển sản xuất và có thể gia hạn sau 50 năm nếu có nhu cầu. Hoạt động của các nhà đầu tư diễn ra trong khu chế xuất phải tuân thủ đúng pháp luật và mọi quy định của nhà nước Việt Nam, cũng như những cam kết của Việt Nam đối với quốc tế.
Sau hơn 7 năm thử nghiệm, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư 100% của nước ngoài đã phát huy tác dụng tích cực. Mô hình này cho thấy, các nhà đầu tư nước ngoài đã tự tin và thực sự yên tâm khi bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam, bởi họ là người được toàn quyền quản lý và giám sát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả của mình. Đây cũng là hình thức đầu tư thích hợp nhất trong điều kiện Việt Nam thiếu vốn và chưa có kinh nghiệm quản lý, nhưng vẫn giữ được chủ quyền và hoàn toàn có thể kiểm soát được mọi hoạt động của các nhà đầu tư. Hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam nên bắt buộc các nhà đầu tư phải tuân thủ luật pháp của Việt Nam. Mô hình này cũng cho phép khai thác tốt nhất nguồn sức mạnh nội lực và nâng cao khả năng chế biến hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Đại bộ phận các doanh nghiệp 100% vốn của nước ngoài đều tập trung sản xuất hàng xuất khẩu và nguyên liệu thay thế hàng nhập khẩu. Đặc biệt là tập trung khai thác và chế biến có hiệu quả nguồn nông, lâm, thủy hải sản xuất khẩu. Vì thế, xét về mặt lợi thế, các doanh nghiệp loại hình này không chỉ tạo và nâng cao năng lực xuất khẩu, mà còn cung cấp nguyên liệu thay thế nguyên liệu nhập khẩu, phục vụ sản xuất trong nước, chế biến nông sản dưới dạng gia công hoặc thu mua nguyên liệu, góp phần tăng năng lực sản xuất nông nghiệp theo xu hướng công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn. Tạo điều kiện tốt nhất để sớm hình thành một đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật tay nghề cao cho các bước phát triển tiếp theo. Có thể khẳng định, đây là mô hình đầu tư hiệu quả nhất ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên, qua thử nghiệm bước đầu, mô hình này cũng có những hạn chế cần sớm nhận thức và có những điều chỉnh thích hợp.
– Chúng ta chưa xác định rõ và kịp thời các lĩnh vực cần khuyến khích đầu tư 100% vốn nước ngoài nên đã để xảy ra hai khuynh hướng sai lầm đáng tiếc: có lĩnh vực rất cần đầu tư ta lại do dự nên để lỡ mất nhiều cơ hội đáng tiếc. Ví dụ lĩnh vực công nghệ cao; nhưng cũng có lĩnh vực không nên thu hút 100% vốn nước ngoài ta lại cho phép, ví dụ sản xuất bia, nước ngọt…
– Mặt khác, đây là lĩnh vực mà chủ đầu tư là người hoàn toàn có quyền chủ động về tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó thường hoạt động của loại hình này là dưới dạng khép kín. Vì thế vấn đề tiếp cận khoa học công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và công tác xây dựng các đoàn thể trong mô hình công ty loại này còn nhiều hạn chế.
– Sau một thời gian hoạt động cho thấy, luật pháp và hệ thống chính sách về mô hình hoạt động kiểu này thực sự chưa theo kịp yêu cầu phát triển, nhưng đổi mới chậm, không đồng bộ và còn nhiều bất cập. Nhà nước chưa quản lý tốt và chưa phát huy hết hiệu quả của các doanh nghiệp này đối với toàn bộ nền kinh tế.
Để dành thế chủ động và phát huy thực sự đúng tầm vai trò vị trí của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cần tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu sau đây:
– Sớm quy hoạch chiến lược thu hút đầu tư, đặc biệt là chiến lược ưu tiên khuyến khích đầu tư 100% vốn với những chính sách ưu đãi hấp dẫn. Phấn đấu từng bước làm cho loại hình đầu tư này trở thành nhân tố đòn bẩy trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế. Tuy nhiên hình thức “tô nhượng” kiểu này không phải bằng mọi giá. Lênin đã từng cảnh báo, nếu làm không khôn khéo, nó sẽ trở thành phương thức cho phép chủ nghĩa tư bản quay trở lại. Do đó khuyến khích phát triển nhưng phải bảo đảm đúng định hướng, trong khuôn khổ pháp luật và có thể kiếm soát được.
– Trong quá trình phát triển cần đặc biệt chú trọng kinh nghiệm của các nước đi trước, bằng và trong khuôn khổ pháp luật, từng bước chuyển hóa từ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sang liên doanh, hoặc cổ phần hóa hay chuyển đổi sở hữu theo hướng nội địa hóa. Các doanh nghiệp trong khu chế xuất Cao Hùng – Đài Loan trước đây đại bộ phận cũng là 100% vốn của nước ngoài, nhưng sau hơn 30 năm đã chuyển hóa dần vào tay các doanh nghiệp Đài Loan. Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa này phải khôn khéo trên nguyên tắc tự nguyện, đôi bên cùng có lợi, dân chủ đúng luật pháp và lấy hiệu quả làm thước đo.
– Mạnh dạn khuyến khích và mở rộng cơ chế liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp trong khu công nghiệp với ngoài khu công nghiệp, giữa các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với các doanh nghiệp nội địa.
Trong những năm trước mắt, trên cơ sở lấy hiệu quả làm thước đo, ngoài những doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có điều kiện (phải liên doanh…) nên khuyến khích hơn nữa sử dụng khá phổ biến hình thức 100% vốn nước ngoài nếu ta thấy chưa đủ khả năng liên doanh.
Cần chủ động đào tạo đội ngũ cán bộ kinh tế kỹ thuật có đủ phẩm chất, năng lực và bản lĩnh để đưa vào các xí nghiệp có vốn 100% nước ngoài, tranh thủ học hỏi nắm bắt kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của họ.
– Có các chính sách thích hợp nhằm hướng tất cả các doanh nghiệp phát triển theo xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, trong đó chú trọng và khuyến khích công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.
– Chú trọng quản lý nhà nước về xây dựng, môi trường, lao động, tài chính đối với hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đồng thời, chú trọng quản lý về an ninh trật tự trong khu chế xuất. Có cơ chế và chính sách thích hợp đào tạo đội ngũ chuyên gia Việt Nam để thay thế dần chuyên gia nước ngoài theo luật lao động đã quy định. Quan tâm đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề để đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư và thực hiện dần phương án chuyển giao công nghệ. Biến khu chế xuất trở thành trường học đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và đội ngũ công nhân lành nghề mang tầm cỡ quốc tế để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong tương lai.
– Cần sớm hoàn thiện cơ chế tổ chức của ban quản lý. Đặt Ban quan lý chủ yếu trực thuộc Chính phủ, vì đây là lĩnh vực kinh tế đối ngoại, mọi khâu hoạt động đều ở tầm kinh tế vĩ mô. Cán bộ của ban quản lý phải trong sạch, có năng lực, phẩm chất và bản lĩnh, có tầm nhìn chiến lược và bao quát. Trưởng ban quản lý khu công nghiệp theo kiểu kiêm nhiệm như cử Phó Chủ tịch Ủy ban kiêm trưởng ban cần phải sớm được thay thế. Điều này sai cả về nguyên tắc quản lý theo cơ chế một cửa và sai cả về phương pháp quản lý. Dĩ nhiên, ban quản lý phải quan hệ chặt chẽ với địa phương, chịu sự quản lý của chính quyền và chịu sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương theo Nghị định 36/CP của Chính phủ.
Đó chính là điều kiện để thực hiện có hiệu quả cơ chế quản lý một cửa; tạo thế và lực cho cơ quan đại diện Nhà nước (ban quản lý) làm tốt nhiệm vụ kinh tế đối ngoại, và quản lý khu chế xuất đạt hiệu quả cao.
– Có chiến lược thích hợp để làm tốt công tác để xây dựng Đảng, Công đoàn và Đoàn thanh niên Cộng sản trong các doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài trong các khu chế xuất. Các tổ chức đó phải được hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời được Nhà đầu tư và tạo mọi điều kiện đề người lao động được hưởng các quyền lợi chính trị hợp pháp của mình. Thông qua các tổ chức chính trị này mà giáo dục cả nhà đầu tư và người lao động nắm vững luật pháp Việt Nam, cùng phối hợp giữa nhà đầu tư và người lao động Việt Nam làm tốt nhiệm vụ của mình, hạn chế những tranh chấp không đáng có. Thông qua các tổ chức chính trị, trên cơ sở quan tâm đến quyền lợi của chủ đầu tư và quyền lợi của người lao động, thúc đẩy các mặt hoạt động như tăng năng suất, hiệu quả và chất lượng sản phẩm, hoạt động văn hóa xã hội, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.
Tuy còn một số công việc chưa thực hiện theo cơ chế một cửa, nhưng việc quản lý nhà nước hiện nay tại các khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, giúp hầu hết các nhà đầu tư vào khu chế xuất chỉ cần trên dưới 10 tháng sau khi nộp dự án đầu tư đã có thể đưa xí nghiệp vào hoạt động.
4- ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ VÀ NGUYÊN NHÂN
* Tình hình thu hút đầu tư.
Đã đặt cọc thuê đất

Đã có giấy phép đầu tư
Các nước đầu tư vào khu chế xuất.
Đài Loan 71; Nhật 52; Hồng Kông 8; Hàn Quốc 5; Việt Nam 4; Singapore 3; Mỹ 3; Đức 1; Malaysia 1; Pháp 1; Australia 2.
Tiến độ đầu tư: Đã có giấy phép: 109; đã hoạt động: 90; đang xây dựng: 9; đang xin giấy phép đầu tư: 42
* KẾT QUẢ CÁC KHOẢN BƯỚC ĐẦU ĐÃ NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA CÔNG TY LIÊN DOANH TÂN THUẬN

Đơn vị tính: USD

Thuế nhà thầu nước ngoài 391.589,68 1.210.746,58 1.020.735,68 2.623.071,94
Nộp bảo hiểm xã hội 9.876,23 94.435,57 92.004,38 196.316,18
Nộp bảo hiểm y tế 2.511,90 4.877,46 6.840,6314,2 14.229,99
Thu nhập của người lao 8.797,00 41.922,00 27.796,00 78.515,00
động trong công ty
Tổng cộng 426.111,77 1.378.045,31 1.196.267,23 3.000.424,31
Sáu tháng đầu năm 1997 đã nộp ngân sách 681.476,96 USD
Ngoài thành tích đạt được trên bốn phương diện vừa nêu còn có một sự kiện nổi bật khác, đó là do khu chế xuất Tân Thuận phát triển nhanh chóng nên hiệp hội các khu chế xuất thế giới (WEPZA) đã chú ý, xem trọng và năm 1995 chủ động gửi công văn mời Tân Thuận gia nhập hiệp hội WAPZA là một tổ chức quốc tế thành lập năm 1978, thông qua hội nghị, tọa đàm, truyền bá thông tin, hợp tác nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm quản lý, kinh doanh giữa các khu chế xuất mà xúc tiến sự nghiệp phát triển công nghiệp trên toàn cầu. Hiện nay, WAPZA có 35 khu chế xuất hội viên thuộc 31 nước. Từ ngày 20 đến 24 -10 – 1996 WAPZA tổ chức hội nghị thường niên lần thứ 16 tại Thiên Tân – Trung Quốc, Tân Thuận đã trình bày báo cáo về công tác chuyển hướng từ ngành nghề tuyển dụng lao động lên công nghệ cao của một khu chế xuất, báo cáo đã được hội nghị hoan nghênh và đánh giá cao.
Ngày 6-2-1997, khu chế xuất Tân Thuận vinh dự đã được Thủ tướng Chính Phủ tặng bằng khen và được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng 3.
* HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI KHÁC
Ngoài những kết quả đạt được như số liệu đã nêu, khu chế xuất Tân Thuận đã góp phần thúc đẩy phát triển khu vực
Khi chọn địa điểm xây dựng khu chế xuất Tân Thuận, chúng tôi đã nghiên cứu khả năng phát triển của thành phố Hồ Chí Minh, tìm ra quy luật lớn lên của thành phố trong quá khứ và hướng phát triển của tương lai, từ đó đặt khu chế xuất Tân Thuận vào vị trí đột phá cho sự phát triển của thành phố vươn ra Biển Đông, bằng một hệ thống dự án có tính khả thi cao.
– Xây dựng xa lộ Nhà Bè – Bình Chánh
Tuyến đường dài 18km, rộng 60 m (lộ giới 120m) với 10 làn xe, khởi đầu từ khu chế xuất Tân Thuận, huyện Nhà Bè chạy xuyên qua trung tâm vùng đô thị Nam Sài Gòn và giao tiếp với Quốc lộ 1 tại huyện Bình Chánh.
Xa lộ này khi hình thành sẽ giúp giải tỏa hàng hóa xuất nhập khẩu không phải đi qua nội thành đông đúc như hiện nay, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng khu đô thị mới.
– Xây dựng khu đô thị mới Nam Sài Gòn.
Khu đô thị mới nằm tại phía Nam thành phố Hồ Chí Minh trên tổng diện tích 2.600ha, tiếp giáp với thành phố hiện hữu, lấy xa lộ Nhà Bè – Bình Chánh làm trục trung tâm. Nơi đây sẽ hình thành một dãy đô thị hiện đại, đáp ứng mọi nhu cầu của cộng đồng dân cư ngày càng tăng trưởng nhanh. Hạ tầng cơ sở, diện tích công cộng, nhà ở, cơ sở thương mại, dịch vụ, công nghiệp, thể thao, y tế, văn hóa, giáo dục v.v…. sẽ được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế.
– Dự án nạo vét sông Soài Rạp
Dự án nạo vét sông Soài Rạp nhằm các mục tiêu sau:
Tạo ra luồng tàu mới, hải trình ngắn cho tàu trọng tải lớn hơn vào thành phố Hồ Chí Minh.
Khai thác cát để bồi đắp vùng đất thấp, ngập mặn tại phía Nam thành phố Hồ Chí Minh để xây dựng khu dân cư mới và khu công nghiệp.
Tạo điều kiện để xây dựng cảng nước sâu dọc sông Nhà Bè-Soài Rạp.
– Dự án khu công nghiệp Hiệp Phước.
Khu công nghiệp Hiệp Phước rộng 2.000ha, cách trung tâm thành phố khoảng 20km, sẽ là nơi lý tưởng để tập tung các ngành công nghiệp tạo nguyên liệu, cần nhiều đất và có mức độ ô nhiễm tương đối cao không thể bố trí trong nội thành hoặc ven đô.
Chiến lược phát triển trên đã được lần lượt thực thi trong 5 năm qua bằng một hệ thống các dự án nối kết nhau mà khu chế xuất Tân Thuận là điểm đột phá đầu tiên. Chiến lược này cùng với những thành quả đã và sẽ đạt được, sẽ mở ra cho thành phố Hồ Chí Minh một thời kỳ phát triển mới.
Ảnh hưởng về mặt kinh tế – xã hội đối với huyện Nhà Bè
Nhà Bè xưa nay vốn là huyện nông nghiệp nghèo, diện tích trải dài trên một vùng đất ngập nước phèn mặn không thích hợp cho cây lúa. Hạ tầng cơ sở (điện, nước, đường…) chỉ có trong khu vực đường Trần Xuân Soạn và một phần tỉnh lộ 15. Đại bộ phận đất còn lại bị thiếu thốn cơ sở hạ tầng, do đó mà đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Trước đây hàng năm, rất nhiều hộ phải còn cứu giúp, cứu đói, trình độ dân trí thấp, việc giáo dục cho con em ít được quan tâm.
Năm năm qua, khi thực hiện Chương trình khu chế xuất Tân Thuận, Nhà Bè đã chuyển biến một cách căn bản và đời sống người dân dần được nâng cao. Theo thống kê của huyện Nhà Bè, trong năm năm qua (1991 – 1995), các chỉ tiêu kinh tế xã hội đều được cải thiện, bình quân tăng trưởng kinh tế của huyện 21.3%/năm; bình quân tăng trưởng thu nhập của dân 35,86%/năm; khu vực giao dịch thương mại tăng bình quân 67,57%/năm; về giáo dục và đào tạo (chuyển từ Trung tâm dạy nghề lên thành trường Trung học nghề – mở rộng cấp 2 và 3).
– Với sự hỗ trợ của khu chế xuất, trường dạy nghề của huyện đã đào tạo và cung cấp được khoảng 3.200 công nhân kỹ thuật cho khu chế xuất (toàn huyện Nhà Bè tính đến cuối năm 1996 có khoảng 8.000 lao động làm việc trong các nhà máy khu chế xuất).
– Tỷ lệ học sinh đến trường gia tăng (so sánh năm học 94 – 95 với 90 – 91).
* Học sinh cấp 1 tăng 2%.
* Học sinh cấp 2 tăng 10,6 %
* Học sinh cấp 3 tăng 27%.
-Tỷ lệ học bổ túc văn hóa cũng tăng 21%
Với ảnh hưởng của khu chế xuất trên lĩnh vực giáo dục tâm lý người dân, Nhà Bè đã có chuyển biến lớn. Mọi người dân quan tâm đến giáo dục, tích cực chăm lo cho con em đi học (trước đây người dân suy nghĩ đơn giản rằng sống trên vùng đất nghèo, đi học cũng chẳng làm được gì!)
* NHỮNG KHÓ KHĂN TỒN TẠI
Sự không đồng bộ của các lĩnh vực
Khu chế xuất Tân Thuận, trong một thời gian ngắn, đã xuất hiện trong một vùng đất nghèo của thành phố Hồ Chí Minh. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của huyện (đường sá, điện, nước,…) và cơ sở hạ tầng xã hội (tổ chức hành chính, trường học, bệnh viện,…) cũng như tâm lý xã hội,… đều không theo kịp yêu cầu phát triển, do đó đã làm nảy sinh các hiện tượng sau:
– Đường sá xung quanh chật hẹp, điện, nước không đủ đáp ứng yêu cầu cuộc sống của người dân do tốc độ đô thị hóa nhanh. Xưa nay, Nhà Bè là vùng đất trũng thấp, thoát nước theo tự nhiên, nay các nơi đều san lấp mặt bằng theo phong trào đô thị hóa tự phát, nên việc thoát nước chung toàn vùng hết sức khó khăn.
– Dân chúng trước đây sinh sống rải rác trong các xã, ấp, nay được tập trung vào một khu vực đô thị hóa. Bộ máy địa phương xã, ấp chưa thích hợp với cơ chế quản lý khu dân cư tập trung dạng phường nên cả thời gian dài bộ máy hành chính đã không theo kịp yêu cầu phát triển.
– Người dân nông thôn xưa nay quen sống đơn giản, mức hưởng thụ luôn luôn cân đối với thu nhập. Nay đột nhiên họ chuyển vào vùng đô thị hóa và nhận được một khoản tiền lớn (tiền đền bù giải tỏa) trị giá gấp nhiều lần giá trị thu hoạch hàng năm trước đây, nên tâm lý thay đổi. Một số người xuất hiện lối xa hoa lãng phí, rượu chè, cờ bạc,… quan hệ trong gia đình và nếp sống truyền thống cũng bị ảnh hưởng.
– Mặt bằng giá đất bị thay đổi, tạo nên cơn sốt mua bán đất và xuất hiện hiện tượng đầu cơ trục lợi. Giá trị của một khu đất phụ thuộc vào giá trị sử dụng được tạo nên bởi hiệu quả kinh tế và do người sử dụng đem lại. Trước đây, vùng đất này chỉ sử dụng để canh tác do người sử dụng là nông dân nên vùng đất không có giá trị. Nay, với chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên mục đích sử dụng thay đổi (trước đây là nông dân nay là doanh nghiệp). Từ đó, giá trị đất tăng lên, đã tạo nên sự lầm tưởng và tâm lý ngộ nhận của người nông dân. Từ chỗ đã được đền bù thỏa đáng, nay đòi hỏi phải được đền bù nhiều hơn (dù rằng đời sống đã được nâng cao hơn trước). Nhiều người dân muốn nâng giá đất, nhiều người khác nhân cơ hội này đầu cơ trục lợi. Điều này gây ảnh hưởng xấu đến việc phát triển kinh tế, tạo sự đối lập tâm lý của người dân với các chương trình công nghiệp hóa.
Các đánh giá về khu chế xuất Tân Thuận
Việc xây dựng khu chế xuất Tân Thuận, ngay từ lúc đầu đã có những đánh giá khác nhau về tính hiện thực của đề án. Sau bảy năm xây dựng, tuy được nhìn nhận là khá thành công trong việc xây dựng cơ sở, thu hút đầu tư và tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, nhưng về mặt kinh tế, tài chính, xã hội còn không ít ý kiến chưa xem đây là một mô hình tích cực. Do đó công năng, vai trò đòn bẩy thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và gắn khu chế xuất với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực lân cận chưa phát huy hiệu quả. Chưa nhận rõ vị trí đòn bẩy trong chiến lược xuất khẩu và sự kết nối giữa kinh tế Việt Nam với kinh tế khu vực và quốc tế. Có thể khẳng định khu chế xuất Tân Thuận mở ra một hướng đi mới cho nền kinh tế Việt Nam. Đó chính là bước vận dụng sáng tạo mô hình tư bản nhà nước trong điều kiện mới. Tiền đề cho việc hình thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sau này.
* NGUYÊN NHÂN CỦA CÁC KẾT QUẢ NÊU TRÊN
Đạt được kết quả khái quát nêu trên, có thể rút ra một số nguyên tắc và bài học chủ yếu sau:
° Chọn vị trí phù hợp: khu chế xuất Tân Thuận nằm trên địa bàn thuận lợi.
– Gần cảng biển Bến nghé, Sài Gòn Tân Cảng, Cảng Container Tân Thuận lại có 3 bên sông Sài Gòn bao bọc.
– Gần phi cảng: cách phi trường Tân Sơn Nhất khoảng 10km.
– Nằm trên trục giao thông đường bộ tiện lợi: Lộ 15 nhất là đại lộ Nam Sài Gòn mới ra đời nối liền khu chế xuất với các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
– Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 4km, đây là nguồn cung cấp lao động và chất xám dồi dào.
– Nằm trong hướng đông nam Sài Gòn, hướng quy hoạch chiến lược phát triển thành phố ra biển đông.
° Thực hiện cơ chế quản lý một cửa, chính nhờ có cơ chế mới này mà mặc dù chưa làm xong cơ sở hạ tầng vẫn thu hút được các nhà đầu tư. Cơ chế một cửa, tại chỗ là bước phát triển đầy sáng tạo theo mô hình quản lý kiểu mới các khu công nghiệp. Một đóng góp độc đáo của khu Tân Tạo. Cơ chế này cho phép nhà đầu tư chỉ cần đến Ban quản lý là được giải quyết hầu như tất cả các yêu cầu. Có công việc ngoài quyền hạn Ban quản lý thì các phòng ban của Ban quản lý chịu trách nhiệm liên hệ giải quyết, không để nhà đầu tư phải tự lo liệu công việc, vừa tốn kém vừa mất thời gian, ảnh hưởng tới tiến độ đầu tư. Nhờ cơ chế một cửa và con dấu quốc huy đã mở đường cho khu chế xuất hoạt động và phát triển.
° Chọn đúng đối tác để liên doanh.
Tập đoàn C. T&D của Đài Loan là tập đoàn có nhiều kinh nghiệm xây dựng khu chế xuất, họ sử dụng đội ngũ cán bộ liên doanh với Việt Nam là những người đã lãnh đạo và quản lý khu chế xuất Cao Hùng, một khu kinh tế mở năng động ở khu vực Châu Á. Đồng thời họ lại là những người có vốn, có nhiều mối quan hệ và có khả năng thu hút đầu tư của các nước trên thế giới.
° Được Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm theo dõi và tập trung tháo gỡ kịp thời các vướng mắc trong quản lý cũng như trong sản xuất kinh doanh. Hầu hết các đồng chí từ Tổng Bí thư đến Bộ Chính trị, từ Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng thường xuyên đến chỉ đạo cụ thể. Chính phủ đã kịp thời đề ra các nghị định phù hợp ngay từ đầu, với chủ trương chính sách ngày càng thông thoáng. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định thúc đẩy sự thành công của khu chế xuất.
° Có ban quản lý với đội ngũ cán bộ năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và có nhiều sáng kiến đề xuất Trung ương kịp thời tháo gỡ những vướng mắc nảy sinh trong quá trình hình thành và phát triển khu công nghiệp. Đây cũng là một trong những nhân tố quyết định.
° Tuyển chọn được các nhà đầu tư thực sự đủ lực, đúng tầm biết làm ăn, gương mẫu chấp hành luật pháp Nhà nước Việt Nam.
° Đội ngũ lao động tiếp thu nhanh kỹ thuật tiên tiến là nguồn tài sản quý, đã góp phần tạo nên chất lượng sản phẩm mang tầm cỡ quốc tế, được các nhà đầu tư đánh giá cao. Nhiều cán bộ Việt Nam thực sự có năng lực, được nhà đầu tư lựa chọn làm giám đốc điều hành xí nghiệp, như vậy, hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả tốt. Đồng thời hệ thống công đoàn cũng sớm được hình thành, từng bước làm vai trò cầu nối giữa chủ đầu tư và người lao động, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển.
Qua thực tiễn bước đầu hình thành và phát triển các khu công nghiệp, có thể khẳng định, đây là sự thể nghiệm sáng tạo mô hình vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước nói riêng và chính sách kinh tế mới của VI. Lênin nói chung vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy còn có một số vấn đề cần tiếp tục điều chỉnh, nhưng về cơ bản đây là bước đi đúng hướng. Mô hình này đã mở ra phương thức khai phá mới của Việt Nam trên con đường phát triển. Trong các nguyên nhân của thành công, mô hình doanh nghiệp 100% vốn đầu tư của nước ngoài được xem là bước đột phá có ý nghĩa chiến lược trong vận dụng chính sách tô nhượng kiểu mới – cho thuê đất để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư dài hạn trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Hình thức này đủ độ hấp dẫn cần thiết, nhờ đó các khu công nghiệp của Việt Nam đã tạo được sức bật, trở thành mô hình động lực, góp phần phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam hơn 20 năm qua.

Posted by: admin | October 24, 2008

Chương 6

MƯỜI NĂM PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP,
KHU CHẾ XUẤT – THÀNH TỰU VÀ BÀI HỌC

10 năm phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp cũng là 10 năm hoạt động của một mô hình kinh tế mới nói chung, góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Hơn 1.000ha đất nông nghiệp bạc màu ở huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Thủ Đức, Củ Chi… đã góp phần làm sinh sôi lợi tức cho đất nước với sự hoạt động nhộn nhịp của hơn 800 nhà máy. Trong vòng 10 năm các khu đô thị công nghiệp, đường sá, điện, nước, tương đối hoàn chỉnh đã lần lượt ra đời, với 13 khu chế xuất, khu công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố đã thu hút 388 giấy phép đầu tư nước ngoài, tổng vốn đăng ký hơn 1 tỉ 513 triệu USD, so với tổng vốn đầu tư nước ngoài của thành phố, chiếm tỉ trọng 13,38%. Các khu công nghiệp cũng dẫn đầu về thu hút nội lực gồm 456 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đăng ký gần 12.403 tỉ đồng (tương đương 800 triệu USD); mức vốn bình quân của một dự án đầu tư nước ngoài là 3,8 triệu USD, thu hút bình quân 520 lao động có việc làm và tạo kim ngạch xuất khẩu hàng năm 5,4 triệu USD.
Các khu chế xuất, khu công nghiệp cũng đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP và góp phần quan trọng vào chiến lược chuyển dịch cơ chế kinh tế của thành phố. Trong 6 khu chế xuất của cả nước thì các khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh ra đời sớm nhất, thu hút nhiều vốn đầu tư, có kim ngạch xuất khẩu cao nhất. Từ khi thành lập đến nay, kim ngạch xuất khẩu của 3 khu chế xuất ở thành phố Hồ Chí Minh đã đạt trên 4.3 tỉ USD. Giá trị xuất khẩu liên tục tăng, từ 405 triệu USD năm 1998 lên hơn 812 triệu USD năm 2001, 1,125 tỉ USD năm 2002 và 1,4 tỉ USD năm 2003. Từ các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố đã du nhập nhiều kỹ thuật, công nghệ mới. Đây là nhân tố góp phần quan trọng khơi mào một không khí học tập, chạy đua về công nghệ trong nền công nghiệp nước nhà, nhất là trên các lĩnh vực dệt may, cơ khí, điện tử, chế biến gỗ… Việc hình thành và phát triển các thành phần kinh tế, đã tạo sự đa dạng, phong phú; góp phần đổi mới cơ chế quản lý trên tất cả các lĩnh vực như đầu tư, xuất nhập khẩu, tài chính, ngân hàng, hải quan, quản lý xây dựng và môi trường, quản lý lao động.v.v… Trong đó, đóng góp quan trọng nhất trong 10 năm qua của các khu chế xuất, khu công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh là đào tạo thu hút nguồn nhân lực có chất lượng và từng bước hình thành phương pháp quản lý tiên tiến, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sau hơn 10 năm hoạt động, các khu chế xuất, khu công nghiệp đã thu hút trên 130.000 lao động. Đặc biệt, từ môi trường đào tạo này, thành phố đã tạo ra được 5.000 kỹ thuật viên và nhân viên quản lý có trình độ đại học, cao đẳng, đủ khả năng thay thế chuyên gia nước ngoài; cùng với 15.000 công nhân trung cấp biết sử dụng thành thạo thiết bị hiện đại và 30.000 công nhân lành nghề có trình độ ngang bằng tầm cỡ quốc tế. Đội ngũ này đã và đang đóng vai trò nòng cốt trong việc tạo ra sản phẩm chất lượng cao, được thị trường thế giới vốn khắt khe chấp nhận và ưa chuộng. Có thể nói, đây là tài sản quý giá nhất để thành phố từng bước hội nhập kinh tế thế giới.
Cũng hơn 10 năm qua, là một chặng đường không ngừng đấu tranh giữa cơ chế cũ và cơ chế mới; giữa nền kinh tế hành chính, quan liêu, bao cấp và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mà điển hình nhất là quá trình đấu tranh giữa cơ chế “một cửa, tại chỗ” với cơ chế “nhiều cửa”. Sự mạnh dạn ủy quyền và đưa vào vận hành, quản lý theo cơ chế “một cửa, tại chỗ” của Chính phủ là nguyên nhân chính dẫn đến những thành công về thu hút vốn đầu tư ngày càng lớn vào các khu chế xuất, khu công nghiệp. Việc vận dụng sáng tạo các chính sách, tạo mọi điều kiện hỗ trợ cho nhà đầu tư từ khâu cấp giấy phép cho đến khâu xây dựng nhà xưởng; thậm chí là bảo lãnh ngân hàng cho nhà đầu tư vay vốn đã giúp các khu công nghiệp đạt được những kết quả không ngờ về thu hút vốn đầu tư trong nước: 456 doanh nghiệp với vốn 12.403 tỉ đồng đã đầu tư vào các khu công nghiệp; trong đó có hơn 300 doanh nghiệp tư nhân với tổng vốn đầu tư hơn 8.000 tỷ đồng, chiếm 70% tổng vốn đầu tư trong các khu công nghiệp, kể cả 10 doanh nghiệp kiều bào. Nếu chúng ta nhớ rằng, mãi đến năm 2001, kinh tế tư nhân mới thật sự phát triển thì bài học về cơ chế “một cửa, tại chỗ”, về hỗ trợ nhà đầu tư cũng như khái niệm “xem khó khăn của nhà đầu tư như khó khăn của chính mình” trong các khu chế xuất, khu công nghiệp đã được thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương nhân rộng ra, tạo thành môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, hấp dẫn. Một tín hiệu mới khác, đó là trong khi việc thu hút các dự án đầu tư mới đang có biểu hiện chậm dần, thì tình hình đầu tư trong các khu chế xuất, khu công nghiệp vẫn khả quan, nhờ các doanh nghiệp đang hoạt động trong khu chế xuất, khu công nghiệp không ngừng mở rộng nhà xưởng, tăng vốn đầu tư, đổi mới thiết bị ngày càng hiện đại. Nhờ sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương, thành phố trong việc ngày càng hoàn thiện cơ chế, chính sách, Ban quản lý các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố cùng các công ty hạ tầng đã giúp các nhà đầu tư hoạt động có hiệu quả và tạo điều kiện tốt để vận động thu hút đầu tư.
Bài học kinh nghiệm qua hơn 10 năm phát triển và quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp
1. Do mô hình khu chế xuất, khu công nghiệp không có tiền tệ trong lịch sử phát triển của nền kinh tế Việt Nam, nên muốn xây dựng mô hình khu chế xuất, khu công nghiệp ở Việt Nam đòi hỏi phải vừa nghiên cứu kinh nghiệm các nước đã đi trước, vừa đồng thời hoàn thiện bổ sung qua hoạt động thực tiễn. Vì vậy, quá trình phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp là quá trình luôn luôn tìm tòi sáng tạo, từ thực tiễn đề xuất các cơ chế, chính sách phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của nó, nhất là trong giai đoạn ban đầu. Có thể lấy khu chế xuất, khu công nghiệp để thể nghiệm mô hình mới về việc quản lý nền kinh tế thị trường của Nhà nước.
2. Sự thành công của khu chế xuất, khu công nghiệp là nhờ chọn đúng vị trí, chọn đúng đối tác, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, trình độ văn hóa, tay nghề, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư (điện, nước, đường, bưu chính viễn thông, v.v…) “cơ chế một cửa, tại chỗ” có ý nghĩa trực tiếp thúc đẩy quá trình phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp, là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp.
3. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua phương thức xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp nên gắn liền với việc đô thị hóa nông thôn ngoại thành. Vì vậy, quy hoạch phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp phải gắn bó với việc quy hoạch khu đô thị mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố. Sự kết hợp này sớm cho phép hình thành các thành phố công nghiệp hiện đại văn minh. Thời gian qua, trong quy hoạch khu chế xuất, khu công nghiệp chúng ta chưa chú trọng kết hợp các yếu tố vừa nêu, trên thực tế mới chỉ chú trọng thu hút đầu tư sản xuất. Điều này cần kiên quyết khắc phục mới đảm bảo ý đồ chiến lược phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp một cách toàn diện và đồng bộ.
4. Trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, việc gắn liền giữa lý thuyết với thực hành, giữa sản xuất với đào tạo phục vụ trực tiếp cho nhu cầu lao động trong khu chế xuất, khu công nghiệp là đặc biệt cần thiết. Vì vậy cần chủ động xây dựng các Trung tâm đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ. Xem đây là hướng ưu tiên. Mô hình phát triển Trường cao đẳng bán công Công nghệ và Quản trị doanh nghiệp trực thuộc ban quản lý các khu chế xuất, khu công nghiệp như ở thành phố là mô hình mới cần quan tâm chăm sóc và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.
5. Quá trình phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp là quá trình đưa nền kinh tế cũ thoát dần cơ chế hành chính bao cấp, tiếp cận nhanh chóng với nền kinh tế thị trường mà vẫn bảo đảm an ninh kinh tế. Vì vậy, chủ trương liên kết giữa khu chế xuất và nội địa, cơ chế tự đảm bảo Tài chánh của Ban quản lý, quy chế phối hợp giữa Ban quản lý và Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp khu chế xuất, khu công nghiệp quy định phối hợp giữa Ban quản lý với Sở Công an thành phố, nhằm đảm bảo an ninh trật tự cho khu chế xuất, khu công nghiệp là chủ trương phù hợp cần nhân rộng ra các khu chế xuất, khu công nghiệp.
6. Đối với khu chế xuất, khu công nghiệp, đã đến lúc cần mở rộng chức năng nhằm kết hợp sản xuất với thương mại, dịch vụ, chuyển tải quốc tế… từng bước chuyển dần khu chế xuất thành khu thương mại tự do như xu hướng thế giới đã làm rất có hiệu quả. Đó là đòn bẩy để thúc đẩy kinh tế nội địa phát triển, tạo thế cạnh tranh với thị trường thế giới…; việc Chính phủ cho phép lấy khu chế xuất Tân Thuận làm thí điểm trước một bước là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, một khi đã có chủ trương phải có kèm theo các chính sách phù hợp để tạo hành lang pháp lý thật thông thoáng thì việc mở rộng chức năng khu chế xuất mới đạt được hiệu quả tốt.
7. Do tính đặc thù của khu chế xuất, khu công nghiệp trong quá trình quản lý, Ban quản lý phải chủ động, linh hoạt và sáng tạo. Một mặt vừa phải căn cứ vào luật pháp và các quy định của Nhà nước có liên quan, mặt khác phải quan hệ chặt chẽ với nhà đầu tư, kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của họ, đặc biệt là những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn mà Nhà nước chưa quy định để đề xuất với Chính phủ những cơ chế, chính sách nhằm đáp ứng yêu cầu chính đáng của nhà đầu tư. Trong khi chưa đủ điều kiện hình thành cơ chế chính sách chung thì xin được làm thí điểm một thời gian, sau đó tổng kết rút kinh nghiệm để trở thành chủ trương chung như cơ chế “một cửa, tại chỗ”, cơ chế tự đảm bảo tài chánh. Tóm lại, phải làm việc trên tinh thần luôn coi khó khăn nhà của đầu tư như khó khăn của chính mình. Với phương thức quản lý trên đây, thời gian qua đã góp phần tháo gỡ nhiều vướng mắc về cơ chế chính sách, thúc đẩy quá trình phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp của thành phố và cả nước mà tiêu biểu là cơ chế một cửa, tại chỗ.
8. Cần đa dạng hóa các thành phần kinh tế trong việc hình thành các công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng dưới nhiều hình thức, theo điều kiện riêng từng khu chế xuất, khu công nghiệp như hình thức doanh nghiệp Nhà nước liên doanh, cổ phần, tư nhân trong nước hoặc 100% vốn nước ngoài. Chính việc đa dạng hóa các hình thức tổ chức công ty đầu tư cơ sở hạ tầng đã tạo được sự linh hoạt, năng động trong hoạt động, từ đó giúp cho quá trình hình thành các khu chế xuất, khu công nghiệp sớm thành công.
9. Quá trình phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp phải gắn liền ngay từ đầu việc xây dựng Đảng, xây dựng Công đoàn và Đoàn thanh niên Cộng sản. Việc xây dựng hệ thống chính trị cần song song với công tác xây dựng hệ thống quản lý Nhà nước. Sự kết hợp này giúp cho kết quả hoạt động khu chế xuất, khu công nghiệp sẽ tốt hơn. Việc nâng Đảng ủy cơ sở khu chế xuất, khu công nghiệp lên Đảng ủy cấp trên cơ sở là một xu thế tất yếu, phù hợp với tốc độ phát triển của khu chế xuất, khu công nghiệp. Phải làm cho nhà đầu tư nhận rõ và đồng tình, ủng hộ việc hình thành hệ thống chính trị sẽ có ích cho quyền lợi của doanh nghiệp. Nhà nước sớm luật hóa luật về Công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các văn bản pháp quy khác về vai trò của các đoàn thể quần chúng, kể cả quy định pháp lý về việc xây dựng các tổ chức Đảng và phát triển đảng viên.
Một số định hướng về phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp:
1. Nhiệm vụ trọng tâm bao trùm khu chế xuất, khu công nghiệp là góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chiến lược phát triển khu công nghiệp phải như là một mũi chủ công, tạo nên một tiềm lực kinh tế để cùng thành phố hội nhập vào thị trường khu vực và quốc tế. Mục tiêu bao quát là xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp trở thành một trong những “quả đấm chủ lực” của thành phố trong cạnh tranh trên thị trường thế giới.
2. Hoàn thành cơ bản 5 mục tiêu và 12 nhiệm vụ mà Chính phủ giao cho các khu chế xuất, khu công nghiệp đã nêu trong Nghị định 36/CP của Chính phủ. Phấn đấu lấp đầy kết hợp mở rộng các khu chế xuất, khu công nghiệp; đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động của khu chế xuất, khu công nghiệp đạt trình độ quốc tế. Trong thu hút đầu tư nước ngoài, chú trọng hơn thu hút đầu tư doanh nghiệp có vốn lớn, kỹ thuật hiện đại, bên cạnh việc thu hút đầu tư quy mô vừa và nhỏ như hiện nay. Mặt khác, cần có chính sách thông thoáng hơn để thu hút đầu tư trong nước và vốn từ kiều bào. Thực hiện tốt chiến lược liên kết giữa doanh nghiệp khu chế xuất, khu công nghiệp và doanh nghiệp nội địa. Trong quản lý, đặc biệt chú ý quản lý môi trường và các công trình dịch vụ phục vụ cho khu công nghiệp và doanh nghiệp ngày càng hoàn hảo hơn.
3. Xây dựng hệ thống chính trị (tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên) theo kịp đà phát triển của khu chế xuất, khu công nghiệp. Lực lượng này phải trở thành lực lượng nòng cốt và trụ cột của hệ thống chính trị trong các doanh nghiệp.
4. Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu chế xuất, khu công nghiệp.
Từ thực tiễn hoạt động của các khu chế xuất, khu công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh sau chặng đường hơn 10 năm xây dựng; căn cứ vào những nhu cầu đang và sẽ phát sinh; để đảm bảo phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của các khu chế xuất, khu công nghiệp trong chặng đường sắp tới, cần thống nhất triển khai thực hiện một số giải pháp cơ bản sau đây:
1. Hoàn thiện cơ chế “một cửa, tại chỗ” nhằm nâng cao nội lực quản lý của ban quản lý. Trong đó chú trọng:
– Hoàn thiện cơ chế ủy quyền của Trung ương và thành phố, nhằm tập trung đầu mối quản lý.
– Hoàn thiện cơ chế tổ chức theo Quyết đinh 100/CP của Thủ tướng Chính phủ.
– Cải thiện hơn nữa thủ tục hành chính theo tinh thần dịch vụ “một cửa, tại chỗ”. Các bộ ngành liên quan và Ủy ban nhân dân thành phố cần có biện pháp hỗ trợ tích cực để giúp Ban quản lý thực hiện tốt cơ chế “một cửa, tại chỗ”, đặc biệt là sự hỗ trợ của ngành hải quan. Đây là vấn đề sống còn của công tác quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp.
2. Mở rộng chức năng khu chế xuất Tân Thuận và cổ phần hóa Công ty Sepzone Linh Trung nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các khu chế xuất, coi đây là giai đoạn chuyển hướng chiến lược của các khu chế xuất.
3. Nâng cao chất lượng quản lý các khu công nghiệp về các mặt, đặc biệt quan tâm quản lý môi trường, trên cơ sở thực hiện quy chế ủy quyền về môi trường của Ủy ban nhân dân thành phố; quản lý các hoạt động dịch vụ trong khu chế xuất, khu công nghiệp, trong đó vấn đề tập trung đầu mối để quản lý là vấn đề bức thiết. Có chương trình, mục tiêu riêng về quản lý khu công nghiệp.
4. Cơ sở hạ tầng phải sẵn sàng đáp ứng cho nhà đầu tư về đất, nước, đường, điện, điện thoại, đường truyền Internet v.v… Trong đó, tập trung vấn đề giải tỏa đền bù, tạo mặt bằng cho các khu công nghiệp là vấn đề bức xúc hàng đầu mà vấn đề mấu chốt là đề nghị Chính phủ sớm đổi Nghị định 22/CP ngày 22-04-1998 về thu hồi đất. Nhà nước cần phải đứng ra nhận trách nhiệm về công tác giải tỏa đền bù.
5. Đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao cho khu chế xuất, khu công nghiệp; không ngừng phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng bán công công nghệ và Quản trị doanh nghiệp trực thuộc Ban quản lý; đồng thời tận dụng tối đa năng lực đào tạo của các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trên địa bàn thành phố, nhằm đưa công tác đào tạo gắn liền với nhu cầu phát triển ngành nghề của doanh nghiệp khu chế xuất, khu công nghiệp.
6. Tham mưu chủ lực cho Chính phủ và Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố để hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù của khu chế xuất, khu công nghiệp nhằm khắc phục hiện tượng cào bằng giữa khu chế xuất, khu công nghiệp với các khu chức năng bên ngoài. Đề xuất sửa đổi chính sách đất đai, môi trường, xuất nhập khẩu, ngân hàng – tài chính; chính sách đền bù giải tỏa, chính sách hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp khu chế xuất, khu công nghiệp; hoàn thiện cơ chế tự đảm bảo tài chính của Ban quản lý; miễn giảm thuế nhập khẩu đối với phí gia công do doanh nghiệp khu chế xuất gia công cho doanh nghiệp nội địa; mở rộng việc miễn kiểm tra hải quan và khai báo hải quan đầu tư đối với các khu công nghiệp.
7. Đẩy mạnh liên kết khu chế xuất với nội địa nhằm không ngừng nâng cao tỷ lệ nội địa hóa các mặt hàng xuất khẩu. Quan tâm nâng cao chất lượng và số lượng hàng hóa, nhất là nông sản của nội địa cung cấp cho khu chế xuất, trên cơ sở đầu tư khoa học kỹ thuật; khai thông và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho gia công hai chiều giữa khu chế xuất và nội địa với chính sách gia công ngày càng thông thoáng hơn.
Có thể nghiên cứu xây dựng “Quỹ xúc tiến hỗ trợ gia công cho các doanh nghiệp Nhà nước” để trang bị thêm máy móc, thiết bị xây dựng nhà xưởng, nâng cao năng lực gia công của nội địa, hoặc động viên doanh nghiệp khu chế xuất đầu tư vốn, kỹ thuật và tham gia hoạt động gia công của doanh nghiệp nông nghiệp nội địa nhằm tạo ra giống, cây con chất lượng cao trên cơ sở từng bước xây dựng chiến lược phát triển một số nguyên, vật liệu nội địa chủ yếu để cung ứng cho các doanh nghiệp khu chế xuất. Xin phép Trung ương, thành phố thành lập trung tâm liên kết nội địa để làm đầu mối liên kết giữa doanh nghiệp khu chế xuất và nội địa.
8. Thực hiện chương trình hành động của Chính phủ về hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ nhằm đẩy mạnh các hoạt động của khu chế xuất, khu công nghiệp, tạo thế chủ động trong hội nhập thị trường quốc tế.
9. Giải quyết nhu cầu về phúc lợi và đời sống mọi mặt cho công nhân trong khu chế xuất, khu công nghiệp nhằm không ngừng khuyến khích nâng cao năng suất lao động cho công nhân.
– Về nhà ở, cần sớm có đề án riêng nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng nhà theo hướng xã hội hóa. Lĩnh vực này rất cần các chính sách ưu đãi và là vấn đề cấp bách.
– Về môi trường, phấn đấu để tất cả khu chế xuất, khu công nghiệp phải có bể xử lý nước thải tập trung và hoàn thiện việc xử lý môi trường trong khu chế xuất, khu công nghiệp, tập trung xử lý nước thải và chất thải rắn bằng công nghệ tiên tiến. Đưa công nghệ xử lý nước thải mặn, nước lợ thành nước ngọt phục vụ cho sản xuất công nghiệp và đời sống nhân dân.
– Về bữa ăn, có quy chế phối hợp với Sở y tế nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
– Về đi lại, hạn chế tối đa việc ách tắc giao thông, làm công nhân cũng như chuyên gia không đảm bảo được giờ giấc làm việc. Đề nghị thành phố sớm xây dựng các tuyến giao thông từ nội thành ra khu chế xuất, khu công nghiệp.
– Về chăm sóc sức khỏe cho công nhân, mỗi khu chế xuất, khu công nghiệp phải có trung tâm y tế hoàn chỉnh và có khả năng đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh một cách hữu hiệu.
– Về văn hóa, nghệ thuật, thể thao v.v… tạo cho được phong trào hoạt động sôi nổi ở từng khu chế xuất, khu công nghiệp.
10. Cần phải luật hóa tổ chức Đảng và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh để tạo điều kiện hỗ trợ xây dựng hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động thuận lợi. Chú trọng nâng cao tổ chức Đảng ngang tầm với nhiệm vụ. Cụ thể, nâng từ Đảng ủy cơ sở lên cấp trên cơ sở. Đồng thời củng cố tổ chức Đảng, đoàn thể thống nhất theo phương châm hệ thống tổ chức chính trị phải được tổ chức song hành với tổ chức quản lý Nhà nước.
11. Ban quản lý và các công ty hạ tầng không ngừng nâng cao trình độ, năng lực quản lý, đáp ứng nhu cầu phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp. Phấn đấu đào tạo cho được một đội ngũ cán bộ quản lý đủ sức đảm đương nhiệm vụ, đồng thời luôn rèn luyện tác phong đạo đức, chống mọi biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, nhằm đảm bảo có đủ uy tín để làm việc với nhà đầu tư. Xin Trung ương cho phép thành lập câu lạc bộ các Ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp từng khu vực để tạo quan hệ hợp tác trong thu hút đầu tư cũng như trong công tác quản lý. Ban quản lý không ngừng nâng cao chất lượng trong quản lý. Cụ thể, xin phép Nhà nước được tổ chức quản lý theo ISO 9002 và hình thành trung tâm công nghệ thông tin để thực hiện nối mạng giữa Ban quản lý với các công ty hạ tầng, các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp và các cơ sở liên quan của Trung ương và thành phố.
12. Ban quản lý phải cùng các ngành liên quan làm xong điều chỉnh quy hoạch chiến lược phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp đến năm 2020 nhằm gắn quy hoạch chung của thành phố và khu vực. Hình thành từng bước các khu đô thị công nghiệp. Do vị trí và vai trò quan trọng có tầm chiến lược của khu chế xuất, khu công nghiệp nên đề nghị Trung ương và Ủy ban nhân dân thành phố cần coi đây là một trong những trọng điểm của nền kinh tế thành phố.
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Thứ nhất về quy hoạch.
Quy hoạch xây dựng khu công nghiệp phải đồng bộ và gắn với việc xây dựng khu đô thị mới. Hiện nay, thành phố có 13 khu chế xuất, khu công nghiệp với quy mô diện tích trên 2.000 ha. Ngoài việc mở rộng cần cố gắng lấp đầy các khu công nghiệp Hiệp Phước, Cát Lái, Phong Phú và sau đó mở rộng các khu công nghiệp khác. Nên cân nhắc kỹ khi hình thành khu công nghiệp tổng hợp mới trong thời gian từ nay đến năm 2020. Chú trọng xây dựng khu công nghiệp chuyên ngành, nhất là khu công nghiệp tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Trong kế hoạch di dời các doanh nghiệp nội thành vào các khu công nghiệp, phải tôn trọng quy hoạch chi tiết của khu công nghiệp, nhất là tiêu chí về môi trường. Đề nghị cho điều chỉnh một phần đất trong khu chế xuất, khu công nghiệp để xây dựng ký túc xá cho công nhân. Đồng thời, Nhà nước có chính sách ưu đãi hơn nữa cho việc đầu tư xây dựng ký túc xá công nhân, nhà ở công nhân.
Thứ hai về vấn đề giải tỏa đền bù.
– Quá trình đền bù giải tỏa nhằm tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống mới tốt hơn chứ không phải chỉ đền bù là xong. Chú trọng công tác vận động quần chúng nhằm động viên tinh thần cộng đồng trách nhiệm của của người dân. Luật hóa việc giải tỏa đền bù trong xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, để cả nhà đầu tư và người dân yên tâm khi có chủ trương quy hoạch giải tỏa.
– Nhà nước nên đứng ra đền bù và giao đất cho Ban quản lý để quản lý việc sử dụng đất đai và giao cho công ty hạ tầng thuê lại với giá ưu đãi để đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng. Nhà nước cần có chính sách hợp lý nhằm xử lý đúng và nghiêm minh các vi phạm của cán bộ và người dân không tuân theo quy định Nhà nước, khi có yêu cầu giải tỏa, đền bù.
– Cần làm công tác đền bù tập trung, dứt điểm; không để dây dưa hết năm này qua năm khác như hiện nay.
Thứ ba về việc xây dựng cảng biển tổng hợp Hiệp Phước.
Theo quy hoạch của Thủ tướng đã quyết định đến năm 2020, cảng tổng hợp Hiệp Phước sẽ thay thế các cảng nội thành. Nhưng cho tới nay, việc xây dựng cảng tổng hợp Hiệp Phước vẫn chưa được cấp phép của Chính phủ. Việc này sẽ cản ngại trực tiếp cho sự phát triển khu công nghiệp Hiệp Phước, đồng thời sẽ làm hạn chế lớn đến quá trình quy hoạch phát triển thành phố. Vì vậy, kiến nghị Chính phủ xây dựng cảng tổng hợp Hiệp Phước, đảm bảo tàu trên 30.000 tấn ra vào để đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố hướng về phía Nam và ra biển Đông. Đặc biệt thực hiện nghị quyết 20/BCT về sự phát triển chiến lược chuyển thành phố thành trung tâm khu vực Đông Nam Á.
Thứ tư về việc xây dựng khu kinh tế mở phía Nam thành phố.
Phía Nam thành phố hiện nay có khu chế xuất Tân Thuận, có đại lộ Nguyễn Văn Linh với 5 cụm phát triển đang từng bước xây dựng, có khu công nghiệp Hiệp Phước, có nhà máy điện Hiệp Phước và cảng tổng hợp tương lai. Đây là tiền đề cực kỳ quan trọng làm cơ sở để xây dựng khu kinh tế mở phía Nam. Đề nghị Chính phủ cho phép thành phố xây dựng khu kinh tế mở phía Nam, lấy khu công nghiệp Hiệp Phước làm trọng tâm như đề án thành phố đã trình, nhằm phát huy vai trò của thành phố là trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, làm lực đẩy chung của kinh tế toàn khu vực. Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công trình kinh tế hiện hữu theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ năm về việc giữ vững và hoàn thiện cơ chế “một cửa, tại chỗ” theo Quyết định 100/CP.
Thực hiện việc mở rộng chức năng khu công nghiệp Tân Thuận và cổ phần hóa Công ty Sepone Linh Trung. Trong việc điều chỉnh Nghị định 36/CP, Chính phủ cần quan tâm dựa trên cơ sở của cơ chế “một cửa, tại chỗ” để đảm bảo hiệu quả trong quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp.
Thứ sáu trong việc định hướng kinh tế đối ngoại.
Ngoài việc mở rộng quan hệ các nước Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, cần quan tâm khôi phục lại mối quan hệ truyền thống với Liên bang Nga, các nước SNG, đồng thời đẩy mạnh hợp tác với khối Asean và Mỹ. Coi đây là hướng chiến lược để xúc tiến đầu tư thương mại vào khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh.
Để hoàn thiện cơ chế, chính sách, Trung ương, thành phố cần tập trung hơn nữa, nhằm giúp khu chế xuất, khu công nghiệp phát triển toàn diện, trở thành quả đấm chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Posted by: admin | October 24, 2008

Chương 5

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỘNG LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN THỰC HÓA MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC

1- MÔ HÌNH QUẢN LÝ “MỘT CỬA, TẠI CHỖ” – CƠ CHẾ MỚI CỦA SỰ VẬN DỤNG MÔ HÌNH TƯ BẢN NHÀ NƯỚC
* SỰ HÌNH THÀNH CƠ CHẾ QUẢN LÝ “MỘT CỬA, TẠI CHỖ”
Lịch sử hình thành cơ chế
Quá trình phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp là quá trình không ngừng tháo gỡ các vướng mắc nhất là về cơ chế và chính sách. Ban quản lý được thành lập nhưng cơ chế quản lý không rõ ràng làm cho mọi hoạt động của Ban quản lý bị đình đốn gần một năm. Bên cạnh đó lại chưa có trụ sở chính thức phải mượn tạm của đơn vị bạn mấy căn phòng để làm việc tại số 1 Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Trong thời gian này, công việc Ban quản lý phải tập trung là vừa nghiên cứu tháo gỡ cơ chế quản lý, vừa dồn sức vào công tác giải tỏa đền bù khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung. Mãi đến tháng 10 – 1992, qua đề xuất của Ban quản lý, Thủ tướng cho phép Ban quản lý được sử dụng con dấu quốc huy (Thông báo của Văn phòng Chính phủ số 433/KTĐN ngày 27-10-1992). Ngày 31-1-1993, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phó Thủ tướng Phan Văn Khải đã có buổi làm việc với Ban quản lý các khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh, có các đại diện của các Bộ, Ngành Trung ương tham gia để giải quyết một số vấn đề tồn tại của các khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung. Sau đó có văn bản số 22/TB ngày 04-02-1993 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ bao gồm 8 điểm, trong đó riêng điểm thứ bảy dành riêng nói về nội dung thực hiện cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” đối với các khu chế xuất. Đây là một văn bản vô cùng quan trọng, đánh dấu quyết tâm của Chính phủ trong việc đổi mới cơ chế quản lý cho phù hợp với mô hình khu chế xuất, làm cơ sở cho sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, Ngành liên quan trong công tác xây dựng và quản lý khu chế xuất và sau này được thể chế hóa, áp dụng cho các khu công nghiệp và từ đó đến nay mọi việc được khởi động tích cực.
Nội dung cơ chế “Một cửa, tại chỗ”
– Ban quản lý được Chính phủ cấp con dấu quốc huy. Với con dấu này, Ban quản lý được sự ủy quyền của các Bộ, Ngành Trung ương và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực cấp phép đầu tư, xây dựng, tài chính, thương mại, lao động và môi trường. Ví dụ Bộ Kế hoạch và Đầu tư ủy quyền cho Ban quản lý cấp giấy phép đầu tư các dự án từ 40 triệu USD trở lại đối với khu chế xuất và 10 triệu USD trở lại đối với khu công nghiệp; các Bộ Thương mại, Tài chính, Lao động Thương binh và Xã hội ủy quyền quản lý sau giấy phép. Về phần địa phương, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ủy quyền quản lý môi trường trong khu chế xuất, khu công nghiệp (Quyết định 76/2002/QĐ-UB ngày 02-07-2002) và gần đây, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đã giao cho Ban quản lý làm đầu mối kiểm tra, đôn đốc và báo cáo tình hình thực hiện các chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố liên quan đến các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố (Thông báo số 274/TB-VP ngày 29-08-2002), phối hợp với các sở, ngành, thành phố và các quận, huyện báo cáo trình Ủy ban nhân dân thành phố giải quyết các vấn đề về đền bù – giải tỏa, hạ tầng kỹ thuật, giao thông, quy hoạch có liên quan đến khu chế xuất, khu công nghiệp theo thẩm quyền của thành phố (Thông báo số 337/TB-VP ngày 14-10-2002).
– Để quản lý có hiệu quả cơ chế một cửa, Ban quản lý phải quản lý theo quy trình hoạt động ở những khâu quản lý then chốt. Bản quy trình quản lý phải được công khai để nhà đầu tư biết và chấp hành, thực hiện.
– Khi nhà đầu tư có nhu cầu, Ban quản lý làm đầu mối phối hợp để giải quyết các thủ tục một cách nhanh chóng, tiện lợi: giấy phép đầu tư hoặc chứng nhận đầu tư, chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường, lập phương án phòng cháy – chữa cháy, thẩm định thiết kế kiến trúc và dự toán công trình, quyết định kế hoạch đấu thầu và thẩm định kết quả trúng thầu, kế hoạch xuất nhập khẩu, chứng chỉ C/O Form D, cung ứng lao động, giải quyết tranh chấp lao động… cùng các “dịch vụ hành chính công” (miễn phí) như dịch vụ cấp mới, gia hạn, sửa đổi thị thực cho chuyên gia nước ngoài làm việc trong khu chế xuất, dịch vụ xin cấp hộ chiếu, thị thực cho công nhân Việt Nam làm việc trong doanh nghiệp khu chế xuất đi đào tạo ở nước ngoài; dịch vụ làm con dấu cho doanh nghiệp; dịch vụ sao chụp các văn bản theo thẩm quyền.
– Để đảm bảo thực hiện cơ chế một cửa, bộ máy phù hợp với đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên viên phải có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu công việc được phân công trên tinh thần luôn chủ động, sáng tạo.
– Với cơ chế “Một cửa, tại chỗ”, Ban quản lý được quyền xin ý kiến trực tiếp các Bộ về những vấn đề chuyên môn mà nhà đầu tư đặt ra vượt ngoài quyền hạn của mình, để giải quyết kịp thời yêu cầu của nhà đầu tư (theo Quyết định 100/CP của Chính phủ).
Bên cạnh cơ chế được ủy quyền từ các Bộ, Ngành Trung ương và Ủy ban nhân dân thành phố, Ban quản lý đã sáng tạo, chủ động thực hiện cơ chế phối hợp, liên tịch với các sở, ngành thành phố như Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, Công an, Cục Thuế, Sở Điện lực, Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội, Bưu điện, Sở Kế hoạch và Đầu tư… để góp phần hỗ trợ tích cực cho các công ty xây dựng và phát triển hạ tầng, cũng như các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp. Việc này đã giúp đảm bảo cơ chế “Một cửa, tại chỗ”, Ban quản lý vẫn là cơ quan quản lý hành chính trực tiếp, còn các Sở, ngành thành phố quản lý chuyên môn, nghiệp vụ trên địa bàn.
Tác dụng của cơ chế “Một cửa, tại chỗ”
– Đơn giản tối đa các thủ tục hành chánh, điển hình là thủ tục cấp phép đầu tư. Nếu nhà đầu tư làm đầy đủ các thủ tục thì trong vòng trung bình từ 3 – 5 ngày, có giấy phép chỉ trong vòng 1 ngày. Thủ tục về xây dựng được giải quyết trong vòng 15 ngày.
– Tiết kiệm được rất lớn về thời gian, tiền bạc và giảm thiểu phiền hà cho nhà đầu tư.
– Xóa được cơ chế hành chánh quan liêu bao cấp, tạo điều kiện Ban quản lý tiếp cận với nền kinh tế thị trường và phương thức quản lý hiện đại tiên tiến.
– Rèn luyện tính năng động, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ, công chức.
– Phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp từ Trung ương đến địa phương.
* HIỆU QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH “MỘT CỬA, TẠI CHỖ”
Một số ví dụ minh chứng cho hiệu quả tác động của mô hình “Một cửa, tại chỗ”.
Ở khu chế xuất Linh Trung, lúc mới thành lập – năm 1993 do tiêu cực bên đối tác mang danh nghĩa Hồng Kông, Chính phủ ra lệnh rút giấy phép khu chế xuất Linh Trung. Xét thấy việc này phức tạp, Ủy ban Hợp tác và Đầu tư (SCCI) cùng Ban quản lý trình bày lại và được Chính phủ cho chuyển đối tác mới là liên doanh giữa Công ty Sepzone Linh Trung với Công ty Điện cơ của Trung Quốc để thành lập Công ty liên doanh khu chế xuất Linh Trung. Từ việc tháo gỡ này, đã giúp cho khu chế xuất Linh Trung sau một năm bị đình đốn vượt qua khó khăn tưởng chừng như bế tắc, để đi đến thành công như ngày hôm nay.
Đến năm 1995, các doanh nghiệp trong khu chế xuất Tân Thuận được thành lập ngày càng nhiều. Trong đó, doanh nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm có nhu cầu thủ tục các mặt hàng nhất là nông sản từ nội địa và những doanh nghiệp khác có nhu cầu gia công hai chiều. Nhưng do thuế xuất nhập khẩu kèm theo thủ tục cho phép phải từ Bộ Thương mại, nên hàng nông sản đưa vào khu chế xuất bị kém chất lượng do chờ thủ tục Hải quan. Để tháo gỡ, Ban quản lý khu Tân Thuận đã chủ động đề xuất Chính phủ giao quyền cho ban giải quyết (công văn 5160/KTTH ngày 12-10-1996 của Văn phòng Chính phủ). Từ đó, vật tư hàng hóa từ nội địa vào khu chế xuất ngày càng thông thoáng hơn, có năm lên đến trên 50 triệu USD, hạn chế được tình trạng nhà đầu tư phải nhập hàng hóa từ Thái Lan.
Bắt đầu năm 1996, có thêm 9 khu công nghiệp, khu chế xuất ra đời trong tình thế cực kỳ khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính, khu vực làm đầu tư nước ngoài chững lại rõ rệt. Đứng trước tình thế này, Ban quản lý cùng các công ty hạ tầng khu công nghiệp vừa chủ trương thu hồi các giấy phép đầu tư nước ngoài chậm triển khai, vừa tập trung có nhiều giải pháp để thu hút mạnh mẽ đầu tư trong nước. Cụ thể là giải quyết vốn cho các doanh nghiệp đầu tư khu công nghiệp bằng hỗ trợ tín dụng, thông qua quy chế phối hợp giữa Ban quản lý với Ngân hàng Nhà nước. Xây dựng nhà xưởng theo tiêu chuẩn bán trả góp, hay công ty hạ tầng khu công nghiệp vay giùm cho doanh nghiệp mới vào khu công nghiệp mà chưa đủ điều kiện thế chấp để vay vốn ngân hàng; đơn giản tối đa các thủ tục, làm các dịch vụ miễn phí.v.v… Từ đó, đã góp phần hạn chế rất lớn vốn đầu tư ban đầu cho các doanh nghiệp. Những giải pháp này đã thu hút rất mạnh mẽ đầu tư trong nước vào khu công nghiệp. Quy chế phối hợp giữa Ngân hàng và Ban quản lý về hỗ trợ tín dụng doanh nghiệp khu chế xuất, khu công nghiệp có ý nghĩa giúp Ngân hàng tiếp cận trực tiếp với khách hàng. Qua đó, Ngân hàng từng bước thay đổi các thủ tục về tín dụng phù hợp với điều kiện riêng của khu chế xuất, khu công nghiệp. Đó là quá trình góp phần đổi mới phong cách hoạt động của Ngân hàng.
Năm 1998, đứng trước tình trạng ngân sách Nhà nước cấp rất hạn hẹp, mỗi năm Bộ tài chính cấp 900 triệu theo kiểu nhỏ giọt, nên rất khó khăn cho hoạt động của ban quản lý, thu nhập của cán bộ, nhân viên thấp nên không thu hút được người có khả năng chuyên môn giỏi về công tác tại Ban quản lý. Từ thực tế đó, Bộ Tài chánh và Ban Quản lý phối hợp làm đề án xin Chính phủ cho làm thí điểm cơ chế tự đảm bảo tài chính, lấy từ nguồn thu 1/3 của phí duy tu bảo dưỡng cơ sở hạ tầng khu chế xuất Tân Thuận từ 1999-2000. Sau 2 năm làm thí điểm có hiệu quả đã được Thủ tướng cho phép thực hiện chính thức và nhân rộng từng bước ra các khu công nghiệp nếu đủ các điều kiện cần thiết. Cơ chế tự đảm bảo tài chính có tác dụng rất lớn không những mở rộng khả năng tự trang trải trong hoạt động, giúp cho Ban quản lý chủ động hơn trong công việc để thực hiện dịch vụ một cửa, thu nhập của cán bộ, nhân viên tăng lên mà còn gắn bó giữa quyền lợi với trách nhiệm của cán bộ, nhân viên, khuyến khích sự hăng say, năng động, sáng tạo trong công việc, bởi lẽ từng bước gắn được lợi ích cá nhân với hiệu quả cuối cùng của công việc, đồng thời góp phần tiết kiệm lớn cho ngân sách Nhà nước.
Vào năm 1997, nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao được đặt ra nhất là kỹ năng thực hành. Sau gần 2 năm làm thủ tục, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Giáo dục đào tạo đã cho phép Ban quản lý được thành lập Trường Cao đẳng bán công công nghệ và quản trị doanh nghiệp trực thuộc Ban quản lý vào năm 1999. Sau hơn 2 năm đi vào hoạt động, trường đã thu hút hơn 4.200 sinh viên, học sinh, trong đó có 500 học sinh trung học chuyên nghiệp. Đây là mô hình gắn đào tạo với sản xuất, được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép làm thí điểm. Đây là vấn đề mới nên còn nhiều hạn chế, vì vậy phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm để hoàn thiện dần. Hiện nay, đã xây dựng gần xong ngôi trường mới ở khu Nam Sài Gòn với sức chứa là 6.000 sinh viên, bằng vốn kích cầu và hỗ trợ đất đai của Ủy ban nhân dân thành phố.
Tính đến 31-08-2003, các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút 835 dự án đầu tư, trong đó số dự án có vốn đầu tư nước ngoài là 394, với tổng vốn đầu tư là 1 tỉ 480 triệu USD và 12.188,87 tỉ đồng Việt Nam, giúp giải quyết 151.121 lao động, xuất khẩu sang hơn 50 nước và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 4 tỉ USD. Riêng năm 2002, vốn đầu tư trong nước đạt 4.639 tỉ đồng (xấp xỉ 302,43 triệu USD). Đây là lần đầu tiên vốn đầu tư trong nước vượt qua vốn đầu tư nước ngoài, chứng tỏ sự quan trọng của nội lực. Sản phẩm trên đây là kết quả tích cực của việc phối hợp giữa Ban quản lý và ngành Ngân hàng. Nhờ đó, đã góp phần tháo gỡ các thủ tục hành chánh, giúp cho các công ty hạ tầng và các doanh nghiệp khu chế xuất, khu công nghiệp có thêm vốn để kinh doanh.
* MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ MÔ HÌNH MỘT CỬA, TẠI CHỖ
Có thể khẳng định cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định cho sự thành công của các khu chế xuất, khu công nghiệp của cả nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Sau nhiều năm phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn thành một bước quan trọng 5 mục tiêu và 12 nhiệm vụ mà Chính phủ đã giao. Tiếp nhận kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tăng năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ, góp phần thúc đẩy kinh tế văn hóa xã hội của thành phố phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa các vùng ngoại thành.
Quá trình phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp là quá trình tạo ra sản phẩm mới, tạo ra con người mới mang tác phong công nghiệp, từ đó tạo ra cục diện mới trong kinh doanh, từng bước góp phần đáng kể vào việc chuyển Thành phố Hồ Chí Minh thành thành phố công nghiệp hiện đại. Trong đó, khu chế xuất, khu công nghiệp đã góp phần cùng thành phố sắp xếp lại nền kinh tế, tổ chức lại sản xuất kinh doanh, bố trí lại dân cư để đi vào xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đó là quá trình góp phần đổi mới cơ chế quản lý trên tất cả các lĩnh vực đầu tư, thương mại, tài chính ngân hàng, hải quan, môi trường, lao động, đồng thời là quá trình góp phần chuẩn bị cho thành phố chủ động trong hội nhập quốc tế. Đây cũng là quá trình làm thay đổi phong cách quản lý ngày càng tiên tiến hơn, hiện đại hơn, quản lý kiểu mới. Đó là quản lý theo “cơ chế một cửa, tại chỗ”.
Nhờ có được những lợi thế trên đây, ngày 27-10-1992 Văn phòng Chính phủ chính thức ra thông báo số 433/KTĐN và số 22/TB ngày 04-02-1993 truyền đạt quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cho phép hình thành một cơ chế quản lý mới, đó là cơ chế ủy quyền để Ban quản lý giải quyết nhanh chóng các thủ tục về đầu tư và các lĩnh vực quản lý khác. Đây là lần đầu tiên trong phạm vi cả nước, Thủ tướng mạnh dạn tin tưởng giao cho cơ quan quản lý chuyên biệt ở một trọng điểm kinh tế của địa phương con dấu Quốc huy và chỉ thị các Bộ ủy quyền cho Ban quản lý để xử lý tại chỗ những vấn đề phát sinh tại khu chế xuất. Nhờ cơ chế này, Ban quản lý đã thực hiện rất thành công “cơ chế một cửa, tại chỗ”, đã chứng minh trong thực tiễn tính đúng đắn của mô hình quản lý mới.
Rõ ràng, thông qua cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” đã góp phần làm võ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường. Nếu những năm qua không có cơ quan quản lý Nhà nước được chủ động hoạt động theo cơ chế một cửa như tại các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh thì quá trình phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp sẽ vô cùng khó khăn.
Bên cạnh những ưu điểm nổi trội, cơ chế này cũng bộc lộ một số hạn chế cần xem xét:
– Về quan điểm, nhận thức, một số địa phương, tỉnh thành còn “lấn cấn” giữa sự phân công, phân cấp quản lý của Trung ương và địa phương. Có vài nơi đưa Ban quản lý vào trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh để được quản lý toàn diện khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn. Điều này sẽ dẫn đến “thủ tiêu” cơ chế “Một cửa, tại chỗ” vì không còn con dấu quốc huy, không còn sự ủy quyền của các Bộ về việc giải quyết mọi thủ tục hành chánh, khi đó chắn chắc sẽ quay lại cơ chế cũ, đó là cơ chế nhiều cửa. Cơ chế này sẽ làm cho hoạt động của Ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp không còn hiệu lực và hiệu quả.
Do không tôn trọng tính đặc thù của khu chế xuất, khu công nghiệp, một vài Bộ, ngành vẫn còn cào bằng giữa khu chế xuất, khu công nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở bên ngoài, khi đề ra các cơ chế, chính sách. Điều này đã hạn chế lớn đến tính độc lập của khu chế xuất, khu công nghiệp, làm cho những tiềm lực vốn có của nó không phát huy được tác dụng, từ đó hạn chế sự phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp.
– Từ quan điểm, nhận thức không đồng bộ, làm cho cơ chế ủy quyền của các Bộ chưa toàn diện và triệt để trên các lĩnh vực quản lý tài chánh, thương mại, dịch vụ, ngân hàng, hải quan.v.v… đặc biệt là việc thực hiện cơ chế “Một cửa, tại chỗ” đối với các khu công nghiệp. Vì thế, hoạt động chưa tập trung một đầu mối quản lý mà còn bị phân tán giữa các ngành và địa phương. Điều này đã làm trì trệ quá trình quản lý khu công nghiệp.
– Về bộ máy tổ chức – cán bộ. Chưa có bộ máy tổ chức một cách có hệ thống quản lý xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, nhất là từ khi Chính phủ giải thể Ban quản lý các khu công nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, biên chế tổ chức và cán bộ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý theo cơ chế “Một cửa, tại chỗ”. Chính sách tiền lương và các chế độ khác cho cán bộ, viên chức của Ban quản lý chưa rõ ràng, chưa được pháp lý hóa và chưa phù hợp. Trình độ cán bộ quản lý so với nhu cầu phát triển theo cơ chế “Một cửa, tại chỗ” vẫn còn khoảng cách.
Để duy trì hoàn thành và phát huy cơ chế một cửa, tại chỗ, nhằm tập trung đầu mối quản lý, ngoài con dấu quốc huy đã cấp cho Ban quản lý, cần tăng cường hơn nữa sự ủy quyền của Bộ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ cũng như ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố cho Ban quản lý. Cần giữ vững phương thức song trùng quản lý đối với Ban quản lý giữa Trung ương và Ủy ban nhân dân thành phố theo QĐ 100/CP của Thủ tướng Chính phủ. Những điều đó cần thiết phải được quy định trong Nghị định 36/CP sửa đổi, bổ sung về Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Hiện nay do vẫn còn một số nhận thức, quan niệm khác nhau, tuy không lớn về nội dung, nhưng quá trình thực hiện đã dẫn đến chậm trễ gây trở ngại cho hoạt động của các Ban quản lý của các tỉnh. Theo quy chế khu công nghiệp thì Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh không phải là cấp Sở, vì Ban quản lý do Thủ tướng Chính phủ thành lập, có con dấu quốc huy và thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước, thông qua cơ chế giao quyền và ủy quyền. Tuy nhiên, do chưa tôn trọng tính đặc thù của các Ban quản lý cấp tỉnh, một số Bộ, Ngành ở Trung ương ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành công tác quản lý Nhà nước thuộc lĩnh vực mình, lại quên không hướng dẫn hay “cào bằng” doanh nghiệp khu công nghiệp với các đối tượng khác. Có ngành lại can thiệp sâu, làm cho cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” kém hiệu lực. Các bộ phận chuyên ngành tại các khu chế xuất, khu công nghiệp như Hải quan, Thuế vụ, Công an… chỉ chịu sự chỉ đạo của ngành dọc cấp trên mà chưa coi trọng vai trò quản lý tổng hợp của Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh, nên đôi khi xảy ra tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, gây ra những bất hợp lý không cần thiết. Để phát huy thành quả tốt đẹp đã đạt được, góp phần nhanh chóng vào việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, xin đề xuất các Bộ, Ngành ở Trung ương và Ủy ban nhân dân thành phố cần tiếp tục ủy quyền sâu hơn cho Ban quản lý. Ngoại trừ các lĩnh vực liên quan đến an ninh, quốc phòng, các mặt công tác có thể được phép làm đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ những thủ tục phiền hà, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của nhà đầu tư. Cần xây dựng qui chế phối hợp giữa Ban quản lý với các Sở, Ban, ngành của thành phố, để làm tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố trong điều hành quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp thuộc phần trách nhiệm của địa phương. Đồng thời nhất thiết phải có cơ quan chuyên trách ở Trung ương, nhằm tham mưu tổng hợp cho Chính phủ để quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp có hệ thống hơn trong phạm vi cả nước.
Các Bộ, Ngành và Ủy ban nhân dân thành phố cần quan tâm hơn nữa cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” đối với các khu công nghiệp. Hiện nay, đối với các khu công nghiệp, Ban quản lý chỉ được ủy quyền cấp phép đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp có vốn không từ nguồn Nhà nước. Các doanh nghiệp thành lập trực thuộc các Tổng công ty 91, 90 hoặc các doanh nghiệp khác lại được các Tổng công ty hoặc các cơ quan Nhà nước khác cấp phép vào khu công nghiệp, từ đó dẫn đến việc quản lý không đồng bộ, cũng như công tác báo cáo, thống kê bị hạn chế và trùng lắp.
Để hoàn thiện cơ chế tổ chức theo Quyết định 100/CP của Thủ tướng. Bộ máy tổ chức quản lý khu công nghiệp từ Trung ương đến địa phương cần được nghiên cứu một cách có hệ thống để có một mô hình tổ chức khả thi, hoàn chỉnh, phù hợp với cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ”.
Tăng cường hơn nữa về tổ chức và cán bộ cho Ban quản lý, ví dụ như hình thành các trung tâm tư vấn về đầu tư, trung tâm công nghệ thông tin… và tăng cường biên chế cho các phòng, ban. Bên cạnh đó, quan tâm công tác đào tạo, không ngừng nâng cao trình độ để thực hiện ngày càng tốt hơn cơ chế “Một cửa, tại chỗ”, đồng thời đổi mới phong cách làm việc, chuyển từ quản lý hành chánh sang công tác dịch vụ, phục vụ tốt cho nhà đầu Trung ương, giúp họ làm ăn có hiệu quả và đó là cách quản lý tốt nhất.
Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh là nền tảng để thực hiện cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” có hiệu quả và ngược lại, cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” hoạt động tốt sẽ góp phần tích cực vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.
Tóm lại, cơ chế “một cửa” – một cơ chế mới đã và đang được dư luận xã hội, nhân dân đồng tình ủng hộ. Tổng quát, có thể nói “Một cửa, tại chỗ” là cơ chế giải quyết các công việc liên quan đến thủ tục hành chính của tổ chức, công dân, cá nhân (tổ chức ở đây bao hàm tất cả các thành phần doanh nghiệp, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp…) của cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, diễn ra tại một đầu mối (bộ phận tiếp nhận và trả kết quả). Tức là mọi công việc từ “đầu vào” đến kết quả “đầu ra”, mọi yêu cầu, hồ sơ của tổ chức, công dân chỉ diễn ra tại “một cửa” của cơ quan hành chính Nhà nước, còn việc phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong bộ máy công quyền với nhau nhằm giải quyết công việc, là trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước. Tại hội nghị tổng kết thí điểm mô hình cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “Một cửa” do Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, bộ Tài chính và Bộ Nội vụ phối hợp tổ chức trong hai ngày 3 và 4-6-2003 tại Hà Nội, Chính phủ quyết định từ đầu năm 2004, cả nước thống nhất thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết công việc của công dân, cá nhân, tổ chức.
Tại hội thảo “Đảm bảo thành công cho khu kinh tế mở, kinh nghiệm cho Việt Nam và Chu Lai” được tổ chức gần đây, ông Kishore A. Rao, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc The Service Group đã dẫn ra các nguyên nhân gây tổn thất cho việc xây dựng và phát triển các khu kinh tế mở trên thế giới, Theo ông, đó là thủ tục đầu tư, hải quan phức tạp, phiền hà và quản lý quan liêu; yêu cầu về giám sát và báo cáo quá nhiều; có quá nhiều cơ quan liên quan đến việc quản lý khu kinh tế mở, nhưng lại thiếu quyền lực cho cơ quan quản lý. Chiến lược phát triển không quy hoạch theo từng giai đoạn để đầu tư, các tiện ích được bao cấp hay thiết kế quá mức, các chế độ dịch vụ khuyến khích kém, và các chính sách phức tạp, không có tính cạnh tranh, cứng nhắc trong các yêu cầu, hạn chế sử dụng và di chuyển lao động vào trong khu kinh tế mở. Điều này cũng đúng với việc quản lý các khu chế xuất, khu công nghiệp trên phạm vi cả nước và từng địa phương trong đó có thành phố Hồ Chí Minh. Vì thế cơ chế một cửa, tại chỗ là một giải pháp. Giải pháp này đang góp phần tạo nên sức bật mới cho quá trình hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất – Một mô hình vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt Nam.

2- TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CÁC KHU CHẾ XUẤT VÀ CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện nền kinh tế theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, năm 1987 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành. Bốn năm sau, khu chế xuất Tân Thuận – khu chế xuất đầu tiên được thành lập và đến nay toàn thành phố đã có 3 khu chế xuất và 10 khu công nghiệp. Quá trình xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất đã biến đổi 1.588,7 ha/2.262,8 ha được quy hoạch khu công nghiệp, khu chế xuất từ đất nông nghiệp kém mầu mỡ thành đất công nghiệp có đầy đủ cơ sở hạ tầng, trên đó có 494 nhà máy hoạt động sản xuất kinh doanh, 92 nhà máy đang xây dựng, 86 dự án chuẩn bị triển khai… Đã góp phần làm thay đổi cơ bản cảnh quan, cơ chế kinh tế của thành phố và các vùng ngoại thành, thúc đẩy kinh tế – văn hóa – xã hội của thành phố phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên, do mô hình khu công nghiệp, khu chế xuất không có tiền tệ trong lịch sử phát triển của nền kinh tế Việt Nam, nên trong quá trình xây dựng và phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất đòi hỏi phải vừa nghiên cứu kinh nghiệm các nước đi trước, vừa hoàn thiện bổ sung thông qua hoạt động thực tiễn. Đây là quá trình luôn tìm tòi sáng tạo, chủ động đề xuất các cơ chế, chính sách phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của nó. Một trong những đề xuất có giá trị đã được áp dụng mang lại hiệu quả cao là việc xây dựng, ký kết và triển khai quy chế phối hợp hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất giữa Ban quản lý và chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh.
Để khu công nghiệp, khu chế xuất thành phố thật sự góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố nói riêng, và cả nước nói chung, một trong những yếu tố vô cùng quan trọng là làm thế nào đáp ứng một cách kịp thời, đầy đủ nhu cầu về vốn cho các dự án có tính khả thi của các công ty phát triển cơ sở hạ tầng và các doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất.
Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất thiếu vốn hoạt động, không ít doanh nghiệp phải vay vốn từ các ngân hàng nước ngoài với lãi suất cao. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại trong nước lại gặp khó khăn về đầu ra, rơi vào tình trạng ứ đọng vốn, thậm chí để đảm bảo an toàn đồng vốn, có ngân hàng phải gởi tiền vào Ngân hàng thương mại nước ngoài tại Việt Nam.
Để góp phần giải quyết tình trạng trên, ngày 09-02-2001 Ban quản lý và chi nhánh hàng Nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai Quy chế phối hợp thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín dụng, nhằm hỗ trợ sự phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất thành phố. Từ khi triển khai Quy chế phối hợp cho đến nay, những thành quả đã đạt được rất rõ ràng, cụ thể là:
– Các ngân hàng thương mại đã nhận diện tầm quan trọng của nhóm khách hàng đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất và xem đây là nhóm khách hàng đáng tin cậy và có độ an toàn cao, theo số lượng báo cáo tài chính năm 2001 đã được kiểm toán, trong tổng số 237 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại khu công nghiệp, khu chế xuất thì có 200 doanh nghiệp có khả năng thanh toán hiện hành ³ 1) chiếm tỉ lệ 84,4%. Từ việc vận dụng có hiệu quả thí điểm cho một số doanh nghiệp khu chế xuất Tân Thuận vay tín dụng, đến nay đã được nhân rộng và phát triển đến các khu công nghiệp, khu chế xuất khác. Hiện nay đã có 9 chi nhánh ngân hàng và văn phòng giao dịch được đặt tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và hoạt động rất có hiệu quả. Một số ngân hàng thương mại khác đang tiến hành thủ tục đặt thêm phòng giao dịch tại các khu công nghiệp, khu chế xuất nhằm kịp thời tiếp cận và cung cấp tín dụng, phục vụ cho nhu cầu phát triển không chỉ các doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất mà còn phát triển bền vững của khu công nghiệp, khu chế xuất.
– Mô hình hỗ trợ vốn ban đầu cho doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất thông qua việc đầu tư xây dựng nhà xưởng tiêu chuẩn bán trả chậm đã mang lại nguồn sinh khí mới, giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua khó khăn nhất thời về vốn. Sự ổn định và phát triển ngày một lớn mạnh của không ít doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất trong thời gian qua là nhờ vào chủ trương sáng tạo này của các đơn vị tín dụng.
– Phương pháp làm việc và thủ tục giấy tờ liên quan đến hoạt động tín dụng tại khu công nghiệp, khu chế xuất đã được cải tiến đáng kể. Cán bộ ngân hàng tích cực tiếp cận nhà đầu tư, hướng dẫn tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục và nắm bắt được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để có thể kịp thời điều chỉnh hoạt động tín dụng phù hợp hơn.
– Bên cạnh đó, Ban quản lý cùng với Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tham mưu cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành một số chính sách phù hợp với thực tế hoạt động và phát triển của khu công nghiệp, khu chế xuất như Chỉ thị số 07/2001/CT-NHNN ngày 30-10-2001 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành về việc mở rộng tín dụng có hiệu quả đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất; văn bản 606/NHNN-QLNH hướng dẫn về nghiệp vụ mua bán ngoại tệ, quyền mua ngoại tệ của doanh nghiệp chế xuất và một số quy định về quản lý ngoại hối trong khu chế xuất.
– Năm 2001, dư nợ tín dụng của các Ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất vay là 1.975,5 tỉ đồng; năm 2002 khoảng 4872 tỉ đồng, tăng thêm 2.896,5 tỉ đồng, tương ứng 246,62% so với năm 2001, và nếu so với con số dư nợ 964 tỉ đồng trước thời điểm thực hiện Quy chế phối hợp, thì đây quả là một sự thành công ngoài mong đợi.
Như vậy, đã có sự chuyển biến rõ rệt về dư nợ trên địa bàn khu công nghiệp, khu chế xuất, trong đó, ngoài tính năng động của hệ thống ngân hàng thương mại, sự tác động tích cực từ Quy chế phối hợp, đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại: xem doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất là khách hàng quan trọng và đáng tin cậy; tích cực tìm kiếm, tiếp cận và tháo gỡ những vướng mắc khó khăn của doanh nghiệp khi vay. Ngược lại, qua cung cách làm việc ngày càng khoa học, tiên tiến và có hiệu quả của các đơn vị tín dụng, các doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng tín nhiệm vào hệ thống ngân hàng Việt Nam. Từ kết quả trên, ta có thể khẳng định, hệ thống ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh đã thấy rõ tầm quan trọng chiến lược của khu công nghiệp, khu chế xuất, biết phát huy cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ” của Ban quản lý để nắm tình hình hoạt động của doanh nghiệp trước khi cho vay, từ đó đã có hành động thiết thực và kịp thời trong hoạt động tín dụng, bước đầu mang lại quan hệ đáng kể, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu công nghiệp, khu chế xuất.
Hiện nay đã và đang diễn ra từng ngày, từng giờ tình hình cạnh tranh gay gắt, quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong nước và giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp ở nước ngoài về giá cả và chất lượng sản phẩm hàng hóa. Đặc biệt, tình hình hội nhập quốc tế, thực hiện AFTA và Hiệp định thương mại Việt – Mỹ đã đặt lên vai các doanh nghiệp trong nước (bao gồm doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) một trọng trách to lớn là làm thế nào sản phẩm hàng hóa được sản xuất tại Việt Nam phải đảm bảo chất lượng cao và giá cả có tính cạnh tranh, có sức hấp dẫn thuyết phục. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới nâng cấp máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại.
Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước và thành phố năm qua giảm sút, một trong những nguyên nhân quan trọng là hạ tầng cơ sở của ta chưa hoàn thiện và chưa đồng bộ, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong khi đó, nhu cầu vay vốn rất lớn. Một mặt để thực hiện đền bù giải tỏa, hoàn thiện và phát triển cơ sở hạ tầng của các công ty phát triển cơ sở hạ tầng (1.800 tỉ trong thời gian 2003 – 2004) mặt khác để thực hiện dự án đầu tư đã đăng ký và cấp phép, phát triển và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất: 637.226.000 USD đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 4.560 tỉ đồng đối với doanh nghiệp trong nước. Đó là chưa kể nhu cầu vay ngắn hạn của các doanh nghiệp.
Để đáp ứng được những yêu cầu cấp bách trên, phải chăng “vốn” là một trong những tác nhân có tính tiên quyết?
Trong tình hình nguồn vốn có hạn, nhu cầu vay của doanh nghiệp thì to lớn, phong phú đa dạng, có không ít doanh nghiệp chưa thể đáp ứng một cách đầy đủ các điều kiện cho vay của ngân hàng. Làm thế nào để vốn đầu tư đến với nhà đầu tư một cách đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng, có hiệu quả nhất? Chúng tôi thiết nghĩ, chúng ta cần có chính sách tín dụng và quản lý ngoại hối thích hợp với xu thế hội nhập theo cơ chế kinh tế thị trường. Từ khía cạnh cơ quan quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất, chúng tôi có những kiến nghị như sau:
– Trước tiên về quan điểm, chúng ta phải là người bạn đồng hành với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, thông cảm chia sẻ những khó khăn với các nhà đầu tư, xem những khó khăn của họ như khó khăn của chính mình. Và thực tế nhiều ngân hàng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh đã chứng minh được điều này thông qua việc tích cực tháo gỡ khó khăn, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh những năm qua.
– Hiện nay, không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có đội ngũ cán bộ nhân viên có đủ trình độ lập phương án vay vốn ngân hàng, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy, hệ thống ngân hàng thương mại cần tăng cường đội ngũ cán bộ bám sát, giúp doanh nghiệp xây dựng phương án vay vốn, qua đó nắm chắc tình hình hoạt động và tài chính của doanh nghiệp để có cơ sở thẩm định chính xác phương án vay vốn của doanh nghiệp.
– Nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng nhiều và đa dạng của doanh nghiệp, chúng ta cần kiến nghị Nhà nước ban hành chính sách phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vay vốn từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài, góp phần đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
– Chúng tôi đề nghị tổ chức ngân hàng cần có chính sách cho vay thích hợp về lãi suất, điều kiện thế chấp, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan trong việc định giá và xử lý tài sản thế chấp, xóa bỏ những thủ tục hành chính không còn phù hợp đối với việc vay vốn của các doanh nghiệp. Đặc biệt, cần có chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao, các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để đổi mới máy móc thiết bị và ứng dụng công nghệ tiên tiến hiện đại, các doanh nghiệp vay vốn để đền bù giải tỏa, xây dựng phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng bên trong và giải tỏa xây dựng phát triển và hoàn thiện vay vốn để di dời ra ngoại thành, đặc biệt quan tâm đến các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn chiến lược.
– Cần lưu ý rằng, hoạt động tín dụng là một hoạt động kinh tế có tính rủi ro và trên cơ sở thỏa thuận giữa bên vay và bên cho vay. Hơn nữa, các doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất hoạt động trên nền tảng Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hoặc Luật doanh nghiệp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật phá sản doanh nghiệp, v.v… Do đó, chúng tôi đề nghị không nên hình sự hóa các quan hệ tín dụng giữa các đối tác, nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp còn cơ may phục hồi lại hoạt động và từng bước tính toán các khoản nợ quá hạn (nếu có).
Từ kinh nghiệm thực tiễn phối hợp hoạt động giữa chi nhánh Ngân hàng Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh với Ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh những năm qua cho thấy, trong quá trình triển khai các chủ trương chính sách của Nhà nước, nếu các ban ngành có liên quan biết gắn bó chặt chẽ, bám sát cơ sở, nắm bắt tình hình và kiến nghị giải quyết kịp thời các khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp sẽ góp phần làm cho các chủ trương chính sách của Nhà nước thiết thực, đi vào cuộc sống. Đặc biệt nếu các chủ trương chính sách ấy được sự phối hợp chặt chẽ ngay từ lúc đầu, từ lúc nghiên cứu, xây dựng đến ban hành, của các cơ quan chức năng Nhà nước có liên quan, đảm bảo được tính nhất quán, đồng bộ, sự ổn định, thì chính sách tín dụng của Nhà nước sẽ đi vào đời sống một cách sâu rộng, thiết thực, hiệu quả.
Trong bối cảnh nước ta đang khẩn trương chuẩn bị tư thế và các điều kiện tiền đề cần thiết cho việc hội nhập vào thị trường kinh tế thế giới, đầy rẫy những thử thách khó khăn và cạnh tranh gay go quyết liệt. Cần tạo điều kiện hơn nữa để các khu công nghiệp, khu chế xuất, thực sự là quả đấm chiến lược, là đòn bẩy quan trọng, kích thích nền kinh tế cả nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời cùng với nền kinh tế cả nước, nắm bắt thời cơ cũng như đương đầu với những thách thức trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Chúng tôi kiến nghị hệ thống tổ chức Ngân hàng Việt Nam cần xác định rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng chiến lược của các khu công nghiệp, khu chế xuất, đối với nền kinh tế đất nước, cần xem các doanh nghiệp trong các khu kinh tế đó là các đối tác đặc thù, để sớm có những chính sách phù hợp. Hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ là bạn đồng hành chí cốt và sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy các khu công nghiệp, khu chế xuất, cả nước phát triển một cách mạnh mẽ.

3- MỞ RỘNG CỔ PHẦN HÓA CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP – MỘT PHƯƠNG THỨC VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN NHÀ NƯỚC
Xã hội hóa sản xuất là xu thế khách quan trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo quy luật quan hệ sản xuất nhất định phải phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất và quy luật tích tụ tập trung tư bản.
Trước đây, chúng ta thường đồng nghĩa xã hội hóa sản xuất với quốc hữu hóa. Thực ra đó là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Để quốc hữu hóa, chúng ta có thể dùng mệnh lệnh, sắc lệnh mang tính chất hành chính, điều đó chỉ mang tính tạm thời và trái với quy luật phát triển. Ngày nay trước xu thế toàn cầu hóa, xã hội hóa phải trên cơ sở tự nguyện và phải phù hợp với các quy luật khách quan của nền kinh tế. Đó là xã hội hóa dựa trên kết quả của sự phân công lao động xã hội sâu sắc và một sự hợp tác lao động hết sức chặt chẽ giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần trong nền kinh tế quốc dân, do sự tác động của lực lượng sản xuất phát triển, thông qua quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đem lại.
Muốn có một nền sản xuất xã hội hóa như vậy, phải là một quá trình vận hành nền kinh tế theo đúng quy luật khách quan từ thấp đến cao trên cả ba mặt: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và phương thức tổ chức quản lý nền sản xuất xã hội. Quá trình đó có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như:
– Liên kết các hộ sản xuất kinh doanh cá thể lại thành những đơn vị sản xuất kinh doanh lớn hơn, dưới hình thức kinh tế hợp tác đa dạng, từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, từ hợp tác 1 – 2 khâu đến nhiều khâu, tiến tới hợp tác toàn diện cả quá trình sản xuất kinh doanh.
– Thực hiện sự phân công hợp tác lao động giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau dưới các hình thức gia công đặt hàng, cung cấp sản phẩm (hoặc chi tiết sản phẩm), các doanh nghiệp nhỏ và vừa làm vệ tinh cho doanh nghiệp lớn, hình thành mô hình công ty mẹ, công ty con, công ty cháu hay các tập đoàn kinh tế theo ngành nghề, sản phẩm chuyên môn hóa ở trình độ cao.
– Cổ phần hóa các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và xây dựng các công ty cổ phần (doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu). Đây là hình thức xã hội hóa phổ biến ở các nước tư bản phát triển. Nó cũng đang được hình thành ở các nước trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam. Sự xuất hiện các hình thức công ty cổ phần và tính chất phổ biến của các công ty này dánh dấu bước chuyển doanh nghiệp từ hình thức sở hữu một chủ sang doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu. Đây cũng là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh có nhiều tiềm năng và thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hóa nền sản xuất xã hội. Cũng chính từ hình thức này mà C. Mác đã dự báo về một chế độ sở hữu xã hội của loài người sẽ ra đời trong tương lai. Hình thức công ty cổ phần, bao gồm công ty cổ phần nhỏ, công ty cổ phần khổng lồ mà C. Mác gọi là công ty cổ phần lũy thừa 2, lũy thừa 3, thực chất là loại hình kinh tế có cơ chế huy động và sử dụng vốn có tính chất xã hội hóa ngày càng cao và phổ biến. Đây là một trong những loại hình của chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Sự phát triển nền sản xuất ngày càng xã hội hóa nói trên là kết quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất do công nghiệp hóa, hiện đại hóa đem lại và đến lượt nó lại thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đi lên theo hướng hiện đại.
Trong các hình thức xã hội hóa sản xuất nói trên, hình thức nào cũng có vai trò quan trọng của nó và giữa chúng luôn luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình vận động và phát triển. Trong các hình thức nói trên, cổ phần hóa các loại hình doanh nghiệp và phát triển hình thức công ty cổ phần nhằm thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là một hình thức đáng được quan tâm.
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố lớn nhất của cả nước xét trên tất cả các yếu tố: diện tích đất đai tự nhiên, dân số, tốc độ và quy mô phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ. Hiện tại, kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm hơn 30% giá trị sản lượng công nghiệp, đóng góp gần 30% nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trên địa bàn thành phố (tính đến cuối năm 2002) đã thu hút hơn 36,4% dự án và 27,2 % số vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, đã hình thành 3 khu chế xuất và 11 khu công nghiệp tập trung. Đến tháng 6 năm 2004, thu hút 925 dự án đầu tư (trong đó có 425 dự án đầu tư nước ngoài) với số vốn là 1.500 triệu USD và 500 doanh nghiệp tư nhân với hơn 1.600 tỉ VND, giải quyết việc làm cho hơn 140.000 lao động, sản xuất hàng hóa xuất khẩu sang 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, với kim ngạch xuất khẩu hơn 5.000 triệu USD. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có 30.000 doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân (chiếm 25% doanh nghiệp tư nhân cả nước) và hàng ngàn doanh nghiệp Nhà nước do Trung ương và địa phương quản lý. Tính đến nay trên địa bàn thành phố, cứ 140 người dân có một doanh nghiệp. Con số này tuy còn thấp so với các nước phát triển trên thế giới và khu vực (Auxtralia: 21 người/doanh nghiệp, Cộng hòa liên bang Đức: 14 người/doanh nghiệp, Vương Quốc Anh: 8 người/doanh nghiệp, Singapore: 4 người/doanh nghiệp), nhưng so với các tỉnh thành phố trong cả nước thì cao hơn nhiều (bình quân cả nước 800 người/doanh nghiệp, Hà Nội 200 người/ doanh nghiệp, Sơn La 7.500người/ doanh nghiệp).
Việc cổ phần hóa các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh sẽ góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất, sẽ đem lại nhiều tác động tích cực như:
– Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn cả nội và ngoại lực, để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội.
– Nâng cao năng lực tổ chức quản lý, điều hành các loại hình doanh nghiệp.
– Nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, từ đó đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh.
– Góp phần quan trọng vào việc cấu trúc lại nền kinh tế thành phố theo hướng hiện đại, phù hợp với qui luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan.
Việc cổ phần hóa các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không những thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất của thành phố mà còn xây dựng thành phố thật sự trở thành một trung tâm kinh tế văn hóa – khoa học công nghệ làm động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong khu vực và trong cả nước.
Nhìn lại trong những năm qua, việc cổ phần hóa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bước đầu đã đem lại một số kết quả đáng khích lệ:
– Tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang dần được đẩy lên, nếu như từ năm 1992 – 1998 mới có 10l doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, thì từ 1999 – 7/2003 đã có 109 doanh nghiệp nhà nước (gấp hơn 10 lần giai đoạn 1992 – 1998), đưa số doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa lên 119 doanh nghiệp, đó là chưa kể 16 doanh nghiệp mới được cổ phần hóa và 92 doanh nghiệp đang bán cổ phần, chuẩn bị đại hội cổ đông, hoàn tất thủ tục đăng kí hoạt động theo luật doanh nghiệp (trong đó có 87 doanh nghiệp nhà nước độc lập, 5 doanh nghiệp vốn Nhà nước chiếm một phần). Đối với 92 doanh nghiệp nhà nước đang trong quá trình cổ phần hóa, cơ cấu vốn điều lệ bao gồm 25% vốn Nhà nước, 75% vốn của cổ đông trong và ngoài doanh nghiệp (trong đó 55% cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp và 20% vốn của người ngoài doanh nghiệp). Thông qua việc cổ phần hóa này đã hoàn lại cho ngân sách nhà nước 451 tỉ 306 triệu đồng để đầu tư vào các lĩnh vực khác.
– Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bước đầu đã đem lại một số kết quả như sau: khắc phục được tình trạng vô chủ của doanh nghiệp nhà nước ; tạo động lực mới trong quản lý kinh doanh của doanh nghiệp và cấu trúc lại nền kinh tế của thành phố theo hướng tiến bộ, đem lại lợi ích cho Nhà nước, cho người lao động và cho doanh nghiệp.
Trong khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, tính đến tháng 6/2003 có gần 30.000 doanh nghiệp thì loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 56,16%, công ty cổ phần 2,96%, có nghĩa là doanh nghiệp nhiều hơn, chủ sở hữu đã chiếm gần 60%, còn doanh nghiệp một chủ sở hữu chỉ còn lại 40%. Sự biến động của doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân nói trên chứng tỏ các nhà đầu tư trên địa bàn thành phố đã ý thức được những điểm lợi và bất lợi của từng loại hình doanh nghiệp; có xu hướng lựa chọn các loại hình doanh nghiệp hiện đại, tạo cơ sở cho doanh nghiệp có thể ổn định phát triển không hạn chế về quy mô và thời gian hoạt động, với quản trị nội bộ ngày càng chính quy và minh bạch, rõ ràng hơn, công khai hơn. Điều này trước hết do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã được nâng lên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tác động. Từ đó thúc đẩy quan hệ sản xuất biến đổi theo hướng xã hội hóa ngày càng cao hơn, nên loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu ra đời ngày càng nhiều hơn. Đây là xu hướng biến đổi tiến bộ theo quy luật khách quan.
– Việc thành lập các công ty cổ phần đã xuất hiện những nhân tố mới, như Công ty cồ phần khu công nghiệp Tân tạo (gọi tắt là Công ty Tân tạo). Công ty này thành lập theo giấy phép số 3192/GP-TLDN ngày 4-12-1996 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 15-7-2002 chuyển thành Công ty cồ phần khu công nghiệp Tân Tạo với các chức năng: đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp; cho thuê hoặc bán nhà xưởng do công ty xây dựng; kinh doanh các dịch vụ trong khu công nghiệp với tổng số vốn dự án đầu tư giai đoạn một 180 ha là 500 tỉ đồng và giai đoạn hai 262 ha là 900 tỉ đồng, để biến nơi đây vốn là một vùng đầm lầy, nông nghiệp năng suất thấp thành một khu công nghiệp hiện đại.
Sau 7 năm hoạt động, Công ty cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo đã đạt được một số kết quả nổi bật như:
– Tổng doanh số đạt được 54.419 triệu đồng, nhịp độ tăng bình quân hàng năm đạt 15 – 20%, thu hút 174 dự án đầu tư (trong đó 130 dự án trong nước, 9 liên doanh, 35 dự án 100% vốn nước ngoài) dẫn đầu cả nước về phát huy nội lực với 3.700 tỉ đồng vốn đầu tư trong nước, có 112 nhà máy đã đi vào hoạt động. Tổng vốn đầu tư giai đoạn 1 là 600.161 triệu đồng, thu hút 21.430 lao động, nộp thuế cho Nhà nước 11.537 triệu đồng.
– Công ty Tân tạo dẫn đầu cả nước về xây dựng nhà xưởng cho thuê hay mua trả góp với diện tích 230.000m2. Chỉ trong vòng 3 năm chương trình này đã thu hút 39 nhà máy đi vào hoạt động, giải quyết hơn 7.000 việc làm.
Công ty Tân Tạo cũng là đơn vị dẫn đầu về tinh thần phục vụ các nhà đầu tư, được tổ chức BVQI của Anh quốc cấp chứng chỉ ISO 9001-2000. Công ty đã xây dựng hệ thống hệ thống quản lý môi trường được tổ chức BVQI đánh giá và cấp chứng thư về môi trường ISO 14.000 – 1996. Đây cũng là khu công nghiệp duy nhất của thành phố Hồ Chí Minh nhận được chứng thư về môi trường và là khu công nghiệp thứ hai sau khu công nghiệp Thăng Long được nhà đầu tư Sumnomo Nhật Bản cấp chứng thư về môi trường.
– Là khu công nghiệp đầu tiên của cả nước xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại; là một trong hai khu công nghiệp thành phố xây dựng nhà máy xử lý nước thải công nghiệp hiện đại; là khu công nghiệp duy nhất của thành phố có cảng cạn ICD hiện đại phục vụ tốt xuất nhập khẩu hàng hóa của các nhà máy trong và ngoài khu công nghiệp.
– Ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty Tân Tạo luôn quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, nhân viên trong công ty; tham gia các hoạt động xã hội; thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy; bảo vệ an ninh trật tự trong khu công nghiệp, quan tâm xây dựng tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng (Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn…) cho các công ty và doanh nghiệp trong khu công nghiệp.
– Với những thành tích trên, Công ty cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng 3; ba năm liền 2000 – 2003 được Thủ tướng Chính phủ tặng cờ thi đua vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, dẫn đầu toàn thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu nói trên, song việc thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp và xây dựng các công ty cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhìn chung tiến triển vẫn còn chậm do các nguyên nhân sau:
– Nhiều cơ quan Nhà nước, cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng như người lao động chưa nhận thức rõ nội dung, bản chất, đối tượng và lợi ích của việc công ty cổ phần doanh nghiệp và xây dựng các công ty cổ phần nên còn chần chừ, do dự, chờ đợi, thiếu niềm tin và quyết tâm ủng hộ, chưa nói đến việc trực tiếp tham gia thực hiện. Một bộ phận khá đông cán bộ quản lý doanh nghiệp chưa muốn cổ phần hóa với nhiều lý do khác nhau: có người lo lắng công ty cổ phần doanh nghiệp nhà nước sẽ làm giảm đi vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, như vậy làm sao giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa; có người lo sợ mất chức, mất quyền, mất lợi ích cá nhân. Công nhân và người lao động thì sợ rủi ro trong đầu tư cổ phiếu, nhất là do tình trạng tham nhũng, tham ô, lãng phí và năng lực yếu kém của đội ngũ giám đốc, tính bấp bênh của thị trường; lo sợ có sự phân biệt đối xử giữa những người làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.
Tình hình tài chính doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp cổ phần hóa nói riêng chưa lành mạnh, thiếu minh bạch, việc định giá tài sản để cổ phần hóa chưa sát với thực tế nên chưa động viên khuyến khích được đông đảo cổ đông tham gia. Quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp đòi hỏi cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước, để xử lý nhiều vấn đề mang tính pháp lý và kỹ thuật, cũng làm cho việc cổ phần hóa doanh nghiệp gặp không ít khó khăn.
Cơ chế, chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp chưa bao quát được tính đa dạng, phong phú của thực trạng tình hình doanh nghiệp hiện nay, trong đó đáng chú ý là “Phương án làm ăn của các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa” chưa thực sự hấp dẫn lôi cuốn cổ đông tham gia; sự phân biệt đối xử và thiếu bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần doanh nghiệp, các thành phần kinh tế còn nặng nề; tâm lý người lao động còn nhiều băn khoăn, lo lắng.
– Sự chỉ đạo của các cấp, các ngành từ Trung ương đến thành phố còn thiếu sự cương quyết, chưa sâu sát, còn nặng nề về kêu gọi, động viên chung chung, giao chỉ tiêu kế hoạch phải cổ phần hóa số lượng cụ thể các doanh nghiệp trong năm, nhưng thiếu biện pháp có tính khả thi, thiếu sự kiểm tra kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn phát sinh, nhất là việc tổng kết rút kinh nghiệm để phát huy mặt tích cực và khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm còn chưa kịp thời.
Để khắc phục những nguyên nhân trên nhằm đẩy mạnh cổ phần hóa các loại hình hình doanh nghiệp và xây dựng các công ty cổ phần mới, nhằm thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, cần có mấy giải pháp chủ yếu:
Một là, đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền giáo dục về chủ trương chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp, làm cho các cấp, các ngành và người lao động hiểu đúng bản chất, mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp. Nhận thức rõ hơn lợi ích của công ty cổ phần, đây là loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mang tính xã hội hóa cao, đem lại hiệu quả tốt trong sản xuất kinh doanh. Thông qua công tác tuyên truyền giáo dục mà làm cho người lao động nhận thức rõ hơn, làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân thì quyền lợi chính trị, xã hội của họ và con cái họ cũng bình đẳng như trong khu vực kinh tế nhà nước. Mặt khác, phải đấu tranh để xóa bỏ sự mặc cảm của xã hội và sự kì thị của một bộ phận cán bộ, viên chức trong các cơ quan công quyền của Nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Hai là, cần mở rộng đối tượng cổ phần hóa ra các loại hình doanh nghiệp. Trước hết là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước xét thấy không cần thiết giữ 100% vốn nhà nước. Đối tượng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không chỉ là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, mà cả doanh nghiệp lớn làm có hiệu quả như Tổng công ty 90 – 91. Đối với doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả nếu thấy củng cố được thì củng cố trước khi cổ phần hóa, nếu xét thấy không có khả năng củng cố thì nên áp dụng các giải pháp như bán, khoán.., cho thuê hoặc cho phá sản theo luật chứ không đưa vào diện cổ phần hóa, vì làm như vậy sẽ làm cho người lao động giảm lòng tin vào cổ phần hóa doanh nghiệp, mặt khác cũng không thể lôi cuốn được cổ đông góp cổ phần vào doanh nghiệp.
Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp sản xuất mà cần mở rộng ra các loại hình doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm với lộ trình, bước đi thích hợp và tất cả cần có sự công khai hóa cho nhân dân biết để tham gia. Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước không nên đặt ra vấn đề nhà nước giữ vai trò khống chế. Hơn nữa nếu có đặt ra thì cũng không nên đưa ra tỷ lệ vốn nhà nước giữ vai trò khống chế là 51% mà có thể chỉ là 15-20-30%, miễn là vốn nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất, còn 70-80 % số vốn kia là của nhiều cổ đông khác.
Ngoài doanh nghiệp nhà nước, đề nghị Chính phủ và thành phố cần đẩy mạnh thực hiện chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trước hết là các doanh nghiệp nằm trong các khu chế xuất, khu công nghiệp như Tân Thuận, Linh Trung, Tân Tạo,… Việc cổ phần hóa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể tiến hành bằng cách cho các doanh nghiệp này bán cổ phiếu cho các doanh nghiệp, các tổ chức và các cá nhân trong và ngoài xã hội tham gia. Cần thể chế hóa chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nước ngoài bằng luật bảo đảm cho sự an toàn về tài sản của họ. Xem xét lại những điều kiện chuyển đổi theo quy định tại thông tư liên tịch số 08/2003/TTLT-BKH-BTC của Bộ kế hoạch đầu tư và Bộ tài chính, thông thoáng, không hạn chế thời gian nộp hồ sơ…(hiện nay trong số 12 doanh nghiệp nước ngoài xin cổ phần hóa, có 4 doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, trong đó có khu chế xuất Linh Trung).
Tuyên truyền vận động các doanh nghiệp tư nhân (sở hữu một chủ) chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, coi đây là một giải pháp quan trọng để đưa khu vực kinh tế tư nhân (vốn đã, đang và sẽ chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thành phố) phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Con đường mà Lênin cho rằng đó là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là “phòng chờ” để đi vào chủ nghĩa xã hội, là ¾ chủ nghĩa xã hội.
Ba là, đẩy mạnh việc xây dựng các công ty cổ phần trong khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung như kiểu công ty cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo (Công ty Tân Tạo) biện pháp thực hiện có thể bằng nhiều cách:
° Vận động nhân dân có đất trong quy hoạch khu chế xuất, khu công nghiệp dùng quỹ đất của mình để góp vốn. Nếu làm tốt việc này sẽ có mấy cái lợi: việc đền bù giải tỏa, giải phóng mặt bằng sẽ nhanh hơn chứ không khó khăn như thời gian qua. Nhân dân có đất trong khu chế xuất, khu công nghiệp (bài học của Công ty mía đường Lam Sơn Thanh Hóa bán cổ phiếu rộng rãi cho các hộ nông dân trồng mía đã chứng minh điều đó) sẽ hưởng ứng nhiệt thành, thông qua đó tốc độ xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung sẽ được đẩy nhanh hơn, nhờ huy động được nguồn vốn cả trong và ngoài nước giải phóng mặt bằng thuận lợi.
° Chuyển các doanh nghiệp liên doanh hiện có sang hình thức công ty cổ phần hoạt động theo luật doanh nghiệp.
° Nhà nước cho phép các chủ đầu tư nước ngoài bán cổ phiếu cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong và ngoài khu công nghiệp
– Bốn là, tiếp tục đổi mới hệ thống pháp luật, hoàn thiện thể chế chính sách quản lý kinh tế nói chung và thể chế chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nói riêng. Trước hết là chính sách khuyến khích các loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu chuyển sang hình thức công ty cổ phần; chính sách bình đẳng không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp của các thành phần kinh tế cả về mặt pháp luật, vay vốn, cấp phép xuất nhập khẩu, chính sách thuế,… tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, thủ tục hành chính thông thoáng thuận lợi hơn để khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào địa bàn thành phố.
– Năm là, thúc đẩy cổ phần hóa phát triển mạnh mẽ, rộng rãi, có hiệu quả và bền vững là cơ sở vững chắc để phát triển thị trường chứng khoán lành mạnh và thành công. Ngược lại sự phát triển thị trường chứng khoán đúng hướng, có tác dụng thúc đẩy cổ phần hóa phát triển phong phú, đa dạng… góp phần đưa nền kinh tế – xã hội phát triển lớn mạnh, đưa xã hội hóa sản xuất kinh doanh lên tầm cao mới. Đây là loại hình chủ nghĩa tư bản nhà nước khá phổ biến sắp tới.

Posted by: admin | October 24, 2008

Chương 7

VAI TRÒ CỦA KHU CHẾ XUẤT, KHU CÔNG NGHIỆP
TRONG XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

“Toàn cầu hóa là một quá trình nhiều mặt, trước hết và chủ yếu là kinh tế”(1). “Một số người xem nó như là một quá trình có lợi, là chìa khóa mở vào sự phát triển kinh tế thế giới trong tương lai và cũng là một quá trình không thể tránh và không thể đảo ngược. Những người khác xem nó với thái độ thù địch, thậm chí hoảng sợ, và tin rằng nó làm gia tăng bất bình đẳng giữa các quốc gia, là mối đe dọa cho mức sống, gây ra thất nghiệp, cản trở tiến bộ xã hội… Toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình lịch sử. Thuật ngữ này được sử dụng phổ biến từ thập niên 1980, phản ánh tiến bộ về công nghệ, cái mà làm cho dễ dàng hơn và nhanh hơn các giao dịch quốc tế về cả phương diện thương mại cũng như các dòng chảy của vốn. Nó liên hệ với sự mở rộng bên ngoài biên giới quốc gia với những lưu lượng thị trường truyền thống và đã hoạt động hàng nhiều thế kỷ ở các cấp độ hoạt động kinh tế của con người, những thị trường làng xã, công nghiệp đô thị hay là những trung tâm tài chính… Toàn cầu hóa có nghĩa là các thị trường tài chính và thương mại thế giới ngày càng hội nhập hơn… bao gồm: thương mại, các dòng di chuyển vốn, sự di chuyển của con người (lao động) và sự mở rộng kiến thức và công nghệ”(1). Một số ý kiến cũng chỉ ra những biểu hiện mới của quá trình toàn cầu hóa hiện nay. Đó là quá trình toàn cầu hóa đang chịu sự chi phối của các tập đoàn xuyên quốc gia, đang có sự móc nối giữa sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự, cho nên toàn cầu hóa có lúc, có nơi dường như đang đồng điệu với quân sự hóa, với các thế lực bành trướng, cường quyền và các tham vọng bá chủ thế giới”.
“Thực ra, toàn cầu hóa là một hiện tượng phát minh kỹ thuật truyền thông. Nhờ phương tiện vệ tinh và truyền thông điện tử, mà việc thông tin trở thành toàn cầu hóa. Đây là việc toàn cầu hóa truyền thông, trở thành tất yếu vì khả năng kỹ thuật. Đó là việc hữu ích cho mọi người, không phân biệt nước nghèo hay giàu. Nhưng khi nói về toàn cầu hóa thương mại và kinh tế, thì đó là vấn đề khác”(1).
Có thể nói, toàn cầu hóa là xu thế khách quan, là thành quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và nền kinh tế thị trường thế giới ở mức độ cao. Mặc dù hiện nay quá trình này đang do các nước tư bản phát triển chi phối, nhưng toàn cầu hóa chính là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, nó tạo ra cơ hội cho tất cả các nước. “…Toàn cầu hóa cũng chính là cơ hội lớn chứa trong đó thách thức lớn, và thách thức lớn chứa trong nó cơ hội lớn. Vấn đề là dám đối diện với thách thức để đón lấy thời cơ”(2).
Không phải gần đây mà ngay từ những năm đầu chính quyền Xô-viết, giữa vòng vây thù địch của chủ nghĩa đế quốc tư bản, Lênin đã từng tuyên bố sẵn sàng “Dang cả hai tay mà lấy những cái tốt của nước ngoài. Chính quyền Xô-viết + trật tự đường sắt Phổ + kỹ thuật và cách tổ chức các tờ rớt Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ … + … = chủ nghĩa xã hội”. Thậm chí thời kỳ “chính sách kinh tế mới” Lênin còn chủ trương chính sách tô nhượng rộng rãi đối với tư bản nước ngoài, thực hiện “chủ nghĩa tư bản nhà nước” v.v… Đó là lô gích của mở cửa, của hội nhập quốc tế.
Đảng ta đã xác định “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”(1). Quan điểm của Đảng về đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy tối đa nội lực với thu hút ngoại lực. Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện các mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Có ý kiến cho rằng, chậm trễ để mất cơ hội phát triển, tụt hậu xa hơn về kinh tế cũng là chệch hướng. Nhưng đối lập với toàn cầu hóa, hoặc tuyệt đối hóa mặt tiêu cực của nó lại là lặp lại những định kiến sai lầm trước đây của một số người về kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nước ta hội nhập với thế giới trong hoàn cảnh điểm xuất phát thấp, do vậy cần có một lộ trình thích hợp, vừa không đốt cháy giai đoạn, tránh chủ quan duy ý chí, vừa phải đi tắt đón đầu; đồng thời, phải tỉnh táo, để tránh mắc phải những sai lầm như một số nước đi trước đã rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất, lệ thuộc về kinh tế, dẫn đến khủng hoảng kinh tế, chính trị và mất ổn định xã hội. Bởi vậy, trong các bước đi cụ thể, cần tận dụng tối đa cơ hội do toàn cầu hóa đem lại, nhưng lại phải vượt qua mọi thách thức mà nó đặt ra. Nhiều ý kiến cho rằng, những tác động tiêu cực của nó trong việc làm gia tăng tình trạng bất công xã hội, gây hại đến môi trường sinh thái… đều có thể hạn chế và khôi phục hiệu quả, nếu có một Nhà nước mạnh, đủ sức lựa chọn cho mình những bước đi thích hợp, có lợi cho quốc gia, dân tộc.
Việt Nam muốn hội nhập hiệu quả phải nhanh chóng hoàn chỉnh thể chế kinh tế thị trường, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của thị trường thế giới và các nước phát triển. Bởi, không có kinh tế thị trường phát triển thì không thể hội nhập thành công. Quá trình toàn cầu hóa sẽ giúp chúng ta từng bước tiếp cận với văn minh nhân loại trong vấn đề hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường của ta. Đồng thời, phải chú trọng khai thác những lợi thế so sánh của đất nước, như: đất đai, lao động, tài nguyên. Hội nhập kinh tế quốc tế phải được coi như là một mặt trận, trong đó có cả hợp tác cùng có lợi, có cả cạnh tranh khốc liệt. Do vậy, việc chuẩn bị kỹ lưỡng cả về chiến thuật, chiến lược và nhất là lực lượng về con người, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế có ý nghĩa sống còn.
Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế nhân loại ngày càng gia tăng tính toàn cầu hóa, việc thu hút nguồn lực từ bên ngoài của các nước đang phát triển phổ biến hướng vào thu hút đầu tư, công nghệ tiên tiến thích hợp và phương thức quản lý hiện đại. Nhưng để huy động nội lực và khai thác ngoại lực có hiệu quả cao, cần những điều kiện nhất định.
Vấn đề ở đây là vai trò của các khu chế xuất, khu công nghiệp trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, trong toàn cầu hóa.
Chủ động hội nhập
Sự ra đời của các khu chế xuất, khu công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, Việt Nam nói chung, đã chứng minh rằng đây là những địa bàn lợi thế trong việc tạo ra điều kiện, thể chế và môi trường thuận lợi cho quá trình thu hút, sử dụng vốn, công nghệ, trình độ quản lý cao từ bên ngoài. Nghĩa là, vừa phát huy tốt nội lực, vừa huy động ngoại lực có hiệu quả, qua đó góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập kinh tế với nước ngoài.
Sau khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng lên nhanh, song hầu hết tập trung vào lĩnh vực dịch vụ như khách sạn, nhà làm việc… tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Đầu tư nước ngoài vào công nghiệp, nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu gặp hai khó khăn chính là cơ sở hạ tầng yếu kém, thủ tục xin giấy phép đầu tư và triển khai dự án đầu tư phức tạp, mất nhiều thời gian. Dựa vào kinh nghiệm của nước ngoài, Chính phủ (lúc đó là Hội đồng Bộ trưởng) chủ trương thành lập khu chế xuất để để khắc phục hai khó khăn nêu trên. Quy chế khu chế xuất đã được ban hành kèm theo Nghị định số 322/HĐBT ngày 18-10-1991 và khu chế xuất Tân Thuận, khu chế xuất đầu tiên của cả nước đã được thành lập theo Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 397/CT ngày 25-11-1991. Năm 1992 khu chế xuất Linh Trung; năm 1996 – 1997 liên tiếp 10 khu công nghiệp trên 6 quận, huyện của thành phố có Quyết định thành lập của Chính phủ theo Nghị định 36/CP ngày 24-4-1997 của Chính phủ, trong đó khu công nghiệp Tam Bình 1 sau khi giải tỏa đền bù xong đã chuyển giao cho công ty liên doanh khu chế xuất Linh Trung xây dựng thành khu chế xuất Linh Trung 2. Đầu năm 2002 – 2003 thêm hai khu công nghiệp được thành lập theo Quyết định của Chính phủ là khu công nghiệp Phong Phú và Cát Lái 2. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh có 3 khu chế xuất và 11 khu công nghiệp.
Qua hơn mười năm hình thành và phát triển, các khu công nghiệp, khu chế xuất của thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc thu hút vốn đầu tư, du nhập công nghệ mới, giải quyết việc làm, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ chế lực lượng lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, tích cực chuẩn bị cho toàn cầu hóa kinh tế.
Tính đến 30-06-2003, các khu công nghiệp, khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút 793 dự án đầu tư (trong đó số dự án đầu tư nước ngoài là 372) với tổng số vốn đầu tư là 1 tỉ 480 triệu USD và 11 ngàn 533 tỉ đồng Việt Nam, giúp giải quyết hơn 130.000 lao động, xuất khẩu sang hơn 50 nước và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 4 tỉ 380 triệu USD hàng có chất lượng cao với các chủng loại mặt hàng có đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Riêng năm 2002, vốn đầu tư nước ngoài đạt 217,52 triệu USD chiếm 43,06% tổng vốn đầu tư vào thành phố), vốn đầu tư trong nước đạt 4.639 tỉ đồng (xấp xỉ 302,43 triệu USD). Đây là lần đầu tiên vốn đầu tư trong nước vượt qua vốn đầu tư nước ngoài chứng tỏ sự quan trọng của nội lực.
Có thể nói, các sản phẩm của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung khi xuất khẩu sang thị trường các nước thậm chí được các thị trường vốn khó tính như Bắc Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, chấp nhận nói lên chất lượng quốc tế của sản phẩm cũng như sự phát triển của nền kinh tế đất nước trước sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế toàn cầu.
Những thách thức
Bên cạnh những mặt thuận lợi, tạo cơ hội tốt để phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh thì khu công nghiệp, khu chế xuất ở thành phố vẫn đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn trong quá trình hội nhập.
– Thách thức lớn nhất là sự tồn tại yếu kém của cơ chế, chính sách không đồng bộ, không nhất quán; Có quan điểm coi khu chế xuất là của nước ngoài mà không coi đó là một bộ phận của nền kinh tế quốc gia nên còn áp đặt những chính sách bất hợp lý nhất là cào bằng, không tôn trọng cơ chế đặc thù của khu chế xuất.
– Hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của khu công nghiệp, khu chế xuất.
– Sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt đã làm một số doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất phải phá sản hoặc hạn chế hoạt động.
– Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội còn thấp
– Nguồn nhân lực còn yếu kém, chưa đáp ứng đầy đủ và kịp thời cho khu công nghiệp, khu chế xuất nhất là công nhân kỹ thuật có trình độ cao.
– Giá cả các loại dịch vụ còn cao làm hạn chế sức cạnh tranh và hạn chế thu hút đầu tư.
– Các cuộc tranh chấp lao động tuy không nhiều nhưng vẫn xảy ra nơi này, nơi khác làm bất lợi cho môi trường đầu tư.
Hiệu quả của các khu công nghiệp, khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh.
Về tạo vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Lý thuyết và thực tiễn đều chứng minh rằng, sự gia tăng số lượng vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư luôn có ý nghĩa quyết định trong thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cũng như chuyển dịch cơ chế kinh tế, bất luận quy mô, trình độ của nền kinh tế như thế nào. Bởi lẽ, đương nhiên là muốn đào tạo để nâng cao trình độ của người lao động, trên cơ sở đó tăng năng suất lao động, cần có vốn. Tương tự, để thay thế công cụ lao động thủ công cơ giới hóa, tự động hóa và hiện đại hóa công nghệ … cũng cần có vốn. Do đó, đa dạng hóa các nguồn vốn và kênh huy động vốn luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu trong hoạch định chiến lược, chính sách phát triển. Tuy vậy, để kích thích đầu tư và gia tăng khả năng thu hút vốn, cần tạo ra cơ chế, môi trường đầu tư hấp dẫn, có tính cạnh tranh cao. Thực tiễn, thời gian qua ở thành phố Hồ Chí Minh đã chứng minh rằng, trong bối cảnh cơ sở hạ tầng của nền kinh tế còn thấp kém, môi trường, thể chế đầu tư chưa hoàn thiện thì việc phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất là hình thành địa bàn có tính trọng điểm trong việc tạo những điều kiện, tiền đề quan trọng để thu hút vốn đầu tư từ cả hai nguồn trong và ngoài nước.
Sự gia tăng nguồn vốn đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất một mặt, góp phần quan trọng và tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn; mặt khác, vừa trực tiếp đóng góp vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố; vừa kích thích bầu không khí tăng đầu tư mới ở những lĩnh vực, vùng lãnh thổ ngoài các khu công nghiệp, khu chế xuất. Nghĩa là tạo ra phản ứng dây chuyền có tác động tích cực thu hút đầu tư phát triển.
Về đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động.
Trên phạm vi toàn cầu, tốc độ tiến triển của khoa học, công nghệ ngày càng nhanh; trình độ, phạm vi xã hội hóa ngày càng cao và rõ ràng; khoa học, công nghệ đóng vai trò ngày càng lớn trong phát triển. Vì vậy, quốc gia nào, doanh nghiệp nào làm chủ được những thành tựu mới của khoa học, công nghệ thì quốc gia đó, doanh nghiệp đó đứng vững trong cạnh tranh và có tiềm lực khoa học, công nghệ. Bên cạnh đó, tăng năng suất lao động ngày càng trở thành một yêu cầu cấp bách của mọi quốc gia. Tuy vậy, để thực hiện được yêu cầu này, cần thỏa mãn những điều kiện, trong đó quan trọng nhất là điều kiện về cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội. Thực tế cho thấy, sự ra đời của các khu công nghiệp, khu chế xuất với những ưu thế của nó, đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản về cơ sở hạ tầng cho việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ và gắn liền theo đó là trình độ quản lý tiên tiến từ nước ngoài.
Vì vậy, cùng với sự phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng của các khu công nghiệp, khu chế xuất, sức “hấp thu” công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến từ nước ngoài cũng ngày càng gia tăng. Sự thay đổi về công nghệ và nội lực quản lý tất yếu sẽ dẫn đến thay đổi cơ chế sản xuất, chất lượng, cơ chế sản phẩm và xuất khẩu thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng hàng rẻ tiền nhanh hỏng, hàng có hàm lượng công nghệ, chất xám thấp; tăng hàng sử dụng lâu bền, hàng có hàm lượng công nghệ, chất xám cao.
Quá trình phát triển trong 14 khu công nghiệp, khu chế xuất của thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, giai đoạn đầu, thu hút đầu tư chủ yếu là các ngành dệt, may, lắp ráp điện tử, nhưng càng về sau, đầu tư vào các lĩnh vực như đúc chính xác, cơ khí, xây dựng phụ tùng, hộp số tự động ô-tô, sản xuất cáp điện, sản xuất linh kiện điện tử, kể cả sản xuất bán dẫn… ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn cả về sản phẩm lẫn kim ngạch xuất khẩu.
Về tạo việc làm cho người lao động.
Giải quyết việc làm, chống thất nghiệp luôn có ý nghĩa kinh tế – xã hội – chính trị lớn lao trong quá trình phát triển. Vì lẽ đó, giải quyết việc làm, chống thất nghiệp là một trong những mối quan tâm thường xuyên của Nhà nước. Sự gia tăng đầu tư và nâng cao trình độ công nghệ trong các khu công nghiệp, khu chế xuất đã kéo theo mức tăng cầu về lao động nói chung, lao động có trình độ nói riêng. Do vậy, đứng ở góc độ của lao động và việc làm thì sự phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất đã tạo nên tác động tích cực trên hai phương diện: thứ nhất, thu hút lao động; thứ hai, rèn luyện tác phong lao động mới và nâng cao tính kỷ luật trong lao động. Nhờ vậy, góp phần đào tạo, nâng cao kỹ năng, tay nghề và kỷ luật lao động cùng với tác phong lao động công nghiệp cho người lao động.
Về gia tăng xuất khẩu.
Công bằng ngoại thương là một trong những cân đối trọng yếu của kinh tế vĩ mô. Do vậy, số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa và kim ngạch xuất khẩu vừa phản ánh năng lực nhập, khả năng cân bằng trình độ quản lý tương đối cao và sự am hiểu cùng những mối quan hệ sẵn có với thị trường nước ngoài của các doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất là cơ sở để các doanh nghiệp này thực hiện có hiệu quả chiến lược sản xuất kinh doanh hướng về xuất khẩu. Do vậy, kim ngạch xuất khẩu trong các khu công nghiệp, khu chế xuất tăng trưởng khá đều đặn (ngay cả khi kim ngạch xuất khẩu của thành phố Hồ Chí Minh và cả nước giảm sút) và tỷ trọng xuất khẩu luôn tăng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Về góp phần đổi mới cơ chế quản lý và cải thiện môi trường đầu tư.
Quản lý là một khái niệm “động” chứ không phải là khái niệm “tĩnh”. Cùng với những biến đổi của đời sống kinh tế – xã hội và đặc biệt là dưới tác động của toàn bộ khoa học – công nghệ, khái niệm về quản lý cũng không ngừng thay đổi và kéo theo là sự thay đổi về nội dung, nhiệm vụ cũng như gia tăng tính phức tạp của quản lý. Bởi lẽ cơ chế quản lý và nguồn nhân lực của bộ máy quản lý, một mặt vừa ra đời trên cơ sở những yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội; mặt khác, vừa có vai trò lớn trong kích thích động lực của thành phố, hoặc kìm hãm sự phát triển.
Dù trong phạm vi rộng hay hẹp, nếu có cơ chế quản lý (bao gồm thể chế vận hành, cơ chế tổ chức, những công cụ được sử dụng….) khoa học, phù hợp, tính khả thi cao và nguồn nhân lực quản lý tận tâm, trong sạch, tính chuyên nghiệp cao thì tất yếu sẽ kích thích và khơi dậy mọi tiềm năng để luôn luôn tạo động lực mới cho phát triển. Ngược lại, một cơ chế quản lý cồng kềnh, kém hiệu lực và một đội ngũ cán bộ quản lý thiếu trách nhiệm, kém năng lực sẽ cản ngại nghiêm trọng đối với sự phát triển.
Ban quản lý các khu chế xuất và công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (Ban quản lý) đã tham mưu và được Chính phủ cho phép hoạt động theo cơ chế “Một cửa, tại chỗ” với con dấu có hình quốc huy, được sự ủy quyền của các Bộ, Ngành Trung ương và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thực hiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực như đầu tư, xây dựng, tài chính, thương mại, lao động và môi trường. Bên cạnh đó, Ban quản lý đã sáng tạo, chủ động thực hiện cơ chế phối hợp, liên tịch với các sở, ngành thành phố như Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, Công an, Cục thuế, Sở Điện lực, Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội, Bưu điện… để góp phần hỗ trợ tích cực cho các công ty xây dựng và phát triển hạ tầng cũng như các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp. Việc này đã giúp đảm bảo cơ chế “Một cửa, tại chỗ”, Ban quản lý cơ quan quản lý hành chính trực tiếp, còn các sở, ngành thành phố quản lý chuyên môn, nghiệp vụ trên địa bàn; nhanh chóng giải quyết mọi khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư góp phần tích cực vào việc cải cách hành chính, làm cho việc quản lý Nhà nước trở thành dịch vụ công quyền, phục vụ cho các nhà đầu tư trong điều kiện hội nhập.
Một trong những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động các khu công nghiệp, khu chế xuất và để góp phần tích cực trong việc hội nhập, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho phép Ban quản lý thực hiện thí điểm bổ sung chức năng cho khu chế xuất Tân Thuận (Công văn 1395/CP-CN của Thủ tướng Chính phủ ngày 8-11-2002). Như vậy, khu chế xuất không chỉ đơn thuần làm chức năng gia công xuất khẩu như đề án thành lập ban đầu mà còn được phép làm thí điểm “Dịch vụ cung cấp hàng hóa cho các doanh nghiệp trong khu chế xuất từ các nguồn trong nước và nước ngoài để phục vụ sản xuất của các doanh nghiệp này. Dịch vụ thương mại quốc tế, cụ thể là mua hàng hóa ở nước ngoài để bán tại nước thứ ba. Thu mua, bảo quản, gia công tái chế, đóng gói… các sản phẩm trong nước và nước ngoài. Thực hiện các dịch vụ cho các doanh nghiệp trong khu chế xuất và ở nước ngoài như dịch vụ tiếp thị, quảng cáo, mở rộng thị trường, tìm kiếm nguồn hàng. Xây dựng, sửa chữa, kinh doanh kho bãi… Xây dựng và kinh doanh bến cảng. Chuyển tải quốc tế từ khu chế xuất và ngược lại” (Công văn 7322 BKH/KCN của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 18-11-2002). Việc thí điểm mở rộng chức năng cho khu chế xuất này từng bước tích cực làm cho khu chế xuất bắt kịp trào lưu thế giới; khu chế xuất sẽ chuyển thành khu thương mại tự do (Free Trade Zone). Bên cạnh đó, nó cũng góp phần tích cực tác động vào chiến lược thành phố là phát triển ra hướng biển Đông, làm cho thành phố trở thành nơi năng động nhất trong Vùng kinh tế trọng điểm các tỉnh phía Nam và là địa bàn cho sự hội nhập kinh tế khu vực và thế giới với khu chế xuất Tân Thuận, khu đô thị mới Nam Sài Gòn, khu công nghiệp Hiệp Phước dành cho công nghiệp nặng, nhà máy điện Hiệp Phước và đặc biệt là với Cảng tổng hợp nước sâu Hiệp Phước sẽ được xây dựng tạo điều kiện tốt nhất cho các giao dịch kinh tế khu vực và thế giới.
Tóm lại, các khu chế xuất, khu công nghiệp trong hơn 10 năm qua đã tích cực chuẩn bị và góp phần cho kinh tế thành phố và cả nước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới gắn với cơ chế quản lý hành chánh mới là “Một cửa, tại chỗ” và chế độ “Tự đảm bảo tài chính”.
Tiếp tục phát huy các hiệu quả khu chế xuất, khu công nghiệp đã nêu trên, xin kiến nghị Chính phủ cần hoàn thiện và mở rộng cơ chế “Một cửa, tại chỗ” và cơ chế “Tự đảm bảo tài chính”; Trung ương và thành phố tiếp tục quan tâm và tạo điều kiện cho các khu chế xuất, khu công nghiệp phát triển và đối với những vấn đề mới về kinh tế mà luật chưa quy định thì cho phép được thực hiện thí điểm trong các khu chế xuất, khu công nghiệp. Xem các khu chế xuất, khu công nghiệp là bộ phận quan trọng để tích cực và chủ động tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của thành phố và cả nước. Thông qua thí điểm mở rộng chức năng khu chế xuất Tân Thuận, từng bước chuyển khu chế xuất Tân Thuận thành khu Mậu dịch Tự do góp phần tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế, làm động lực chuyển vùng kinh tế phía Nam thành phố thành Khu kinh tế phát triển.
Tóm lại, từ lý luận và thực tiễn của 20 năm đổi mới (qua 5 kỳ đại hội toàn quốc) chúng ta có đủ cơ sở khẳng định: “Cơ sở lý luận của sự nghiệp đổi mới mở cửa hội nhập là học thuyết Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa tư bản nhà nước”. Như nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa 7 đã đánh giá: “Trong công cuộc đổi mới, chúng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là tư tưởng của Lênin về chính sách kinh tế mới, về chủ nghĩa tư bản nhà nước với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể để đưa đất nước ta từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Điều này đã chỉ rõ đây thực sự là đường lối chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong thời ký quá độ để đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là quá trình kết hợp chặt chẽ độc lập, dân tộc với định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là quá trình thực hiện một cách có hiệu quả giữa độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế. Từ đó nền dân chủ xã hội sẽ được mở rộng, phát triển bền vững theo con đường mà Bác Hồ đã chọn.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KHU CHẾ XUẤT, KHU CÔNG NGHIỆP Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

VS,TS Nguyễn Chơn Trung

P. Viện Trưởng Viện KH & CN Phương Nam

I. Quan điểm phát triển KCX, KCN Đồng bằng sông Cửu Long:

1/ Phải xuất phát từ mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế – xã hội của vùng, đặc điểm và thế mạnh của từng địa phương. Trước hết là phát triển hạ tầng cơ sở, khu dân cư ổn định, nâng cao dân trí và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao tỷ trọng thương mại dịch vụ.

2/ Thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền nông – lâm – ngư nghiệp của vùng gắn liền với tiến trình đô thị hoá, nâng cao đời sống nhân dân là động lực phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của vùng và địa phương.

3/ Cần đặc biệt gìn giữ môi trường sinh thái để không ảnh hưởng đến vùng nuôi trồng cây con và các thủy hải sản đang là nguồn lợi lớn nhất của vùng và cả nước. Chế biến hải sản phải gắn với nhu cầu thị trường. Hạn chế sử dụng đất nông nghiệp màu mỡ có năng suất cao về trồng trọt và nuôi trồng để làm khu và cụm công nghiệp.

II. Những mặt được và chưa được của tình hình phát triển KCX, KCN các tỉnh ĐBSCL thời gian qua.

1. Mặt được:

a) Đến năm 2004 quy hoạch hình thành được 12/51 khu, cụm công nghiệp tập trung vốn diện tích là 12.024ha. Đã có 12/51 khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động vốn diện tích cho thuê là 509ha dự án với tổng vốn đăng ký là 407 triệu USD và 1.334 tỉ đồng tạo việc làm cho 22.000 lao động. Đến năm 2007 đã có 151 khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động với diện tích đã thuê 1.083 chiếm 36,2% tổng diện tích quy hoạch, tổng vốn đăng ký 1.029 triệu USD và 15.820 tỉ đồng, tạo việc làm được cho 64.588 lao động.

b) Hình thành được bộ máy Ban quản lý Nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu quả theo “cơ chế một cửa tại chỗ”.

c) Một số tỉnh như Long An, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long v.v… khu, cụm công nghiệp ngày càng đóng vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hạ tầng cơ sở góp phần đô thị hoá nông thôn hình thành các khu dân cư mới, nâng cao được dân trí đặc biệt khu, cụm công nghiệp trở thành lò đào tạo ra được đội ngũ chuyên gia và công nhân lành nghề làm nòng cốt cho sự phát triển khu, cụm công nghiệp. Nâng cao tỷ trọng thương mại dịch vụ, góp phần từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Khu, cụm công nghiệp ngày càng có tác dụng làm động lực góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế – xã hội của từng địa phương và cho ĐBSCL.

2. Mặt chưa được:

a) Từng nơi qui hoạch còn tự phát, hạ tầng cơ sở chưa đồng bộ sức thu hút đầu tư còn hạn chế.

b) Môi trường sinh thái bị ô nhiễm nghiêm trọng trở thành mối đe doạ lớn cho sự phát triển kinh tế – xã hội ĐBSCL, đặc biệt đe doạ đến sự sống còn của công nghiệp (cây trồng, vật nuôi, thủy hải sản, môi trường sống của con người).

c) Đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển khu, cụm công nghiệp, nhất là lực lượng chuyên gia lao động lành nghệ. Có nơi thiếu cả lao động phổ thông.

d) Vấn đề đền bù đất đai và giải phóng mặt bằng có nơi trở thành vấn đề phức tạp về kinh tế – chính trị – xã hội.

e) Việc quan tâm đến sức khoẻ, nhà ở của công nhân chưa đúng mức, chính sách tiền lương không hợp lý, đời sống văn hoá chưa được quan tâm từ đó xảy ra vấn đề tranh chấp chủ, thợ ngày càng gay gắt.

g) Cơ chế một cửa tại chỗ chưa được thực hiện triệt để và nhất quán.

III. Bài học kinh nghiệm:

– Về quy hoạch phát triển khu, cụm công nghiệp ĐBSCL phải hướng đến gắn bó và thực sự phục vụ cho phát triển nông nghiệp để góp phần công nghiệp hoá và hiện đại hoá hoặc nông nghiệp và nông thôn. Phải đặt trọng tâm số một hàng đầu của ĐBSCL là công nghiệp hoá nông nghiệp. Vì vậy cần phải soát xét để điều chỉnh lại quy hoạch ĐBSCL trong đó có quy hoạch KCX, KCN tuân thủ triệt để theo hướng này. Quy hoạch cần có hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương và đồng bộ giữa các địa phương hết sức khắc phục tình trạng mạnh ai nấy làm.

– Môi trường, nguồn nhân lực và hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội là nhân tố có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển bền vững ĐBSCL cũng như sự phát triển bền vững KCX, KCN ĐBSCL. Trong đó việc bảovệ môi trường sinh thái có ý nghĩa “tồn vong” của ĐBSCL.

– Cơ chế quản lý một cửa tại chổ cần được duy trì và phát huy mạnh đồng bộ hơn nữa để tạo ra sức hút mạnh mẽ cho nguồn đầu tư vào KCX, KCN ĐBSCL. Đưa cơ chế một cửa tại chỗ vào luật.

IV. Một số vấn đề cần đặt ra trong quá trình phát triển KCX, KCN ở các tỉnh ĐBSCL

Năm 2004 chúng tôi đã cùng Tạp chí Cộng sản tổ chức hội thảo và xuất bản sách “Phát triển các KCN, KCX trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đề cặp đến KCN, KCX ở vùng trọng điểm phía Nam và ĐBSCL. Cuốn sách đó đã tập hợp nhiều ý kiến của các nhà lãnh đạo các tỉnh, các nhà khoa học và quản lý khá phong phú. Nay sau gần 5 năm, chúng ta thử kiểm điểm lại việc thực hiện vấn đề chúng ta đã đặt ra như thế nào? Ở đây chúng tôi chỉ đề cặp đến khu vực ĐBSCL ( từ trang 124 đến 158)

1/ Về quy hoạch

a. Để tránh tình trạng phân tán, mạnh ai nấy làm cần phải có cơ chế điều hoà phối hợp chung cho cả vùng. Cụ thể cần phát huy vai trò Ban chỉ đạo Tây Nam bộ thành cơ quan chỉ đạo chiến lược về kinh tế – xã hội vùng ĐBSCL. Chính phủ cần giao quyền cho ban chỉ đạo này được thực hiện “ cơ chế một cửa” trong điều hành toàn vùng. Vì vậy Ban chỉ đạo Tây Nam bộ cần có bộ máy và đội ngũ cán bộ giỏi đủ mạnh để thực hiện cơ chế này. Cần mạnh dạn điều động cán bộ từ Trung ương và các tỉnh có tâm huyết và năng lực cho ban chỉ đạo này.

b. Cần tập trung hơn nữa xây dựng cơ sở hạ tầng ngoài khu KCN: Giao thông khu dân cư, nhà ở công nhân, dịch vụ, bảo vệ môi trường, đào tạo nguồn lao động cho công nghiệp đồng bộ với nhu cầu phát triển KCN nhằm hướng đến xây dựng khu đô thị công nghiệp ở một số KCN có điều kiện.

c. Cần quan tâm hơn nữa cơ chế chính sách đối với nhân dân trong diện đền bù giải phóng mặt bằng cho KCN tạo cho họ có cuộc sống mới tốt hơn, bền vững hơn. Chấm dứt tình trạng khiếu kiện đông người do giải phóng mặt bằng KCN.Với phương châm “tự tiên trách ký, nhi hậu trách nhân” nên cần soát xét lại phía chính quyền các cấp và ngành có liên quan để “tự sửa sai” kiên quyết chống tình trạng quan liêu tham nhũng trên lĩnh vực này. Đồng thời kiên quyết với đối tượng cố tình không chấp hành chủ trương và luật pháp nhà nước trong công tác di dời.

e. Soát xét lại các cụm công nghiệp không đươc phát triển tự phát mà là đúng theo quy hoạch chung từng địa phương và có cơ chế quản lý phù hợp để đảm bảo sự phát triển đồng bộ đúng hướng và bảo vệ môi trường. Phải gắn quy hoạch ĐBSCL với quy hoạch chung của nhà nước, gắn quy hoạch khu, cụm công nghiệp với quy hoạch toàn vùng và cả nước. Do tính chất đặc thù của khu, cụm công nghiệp ĐBSCL và ĐBSCL nói chung nên để từ 3 đến 5 năm một lần soát xét điều chỉnh lại quy hoạch toàn vùng trong đó có điều chỉnh quy hoạch về khu, cụm công nghiệp.

2/ Về môi trường:

Theo GS,TS Phạm Xuân Nam (Viện KHXH VN) môi trường Việt Nam đang suy thoái đến mức báo động: 70% KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải, 90% cơ sở sản xuất dịch vụ đổ thẳng chất thải ra môi trường. Trong đó nguồn tài nguyên nước đang ô nhiễm nặng nề, 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở vùng đồi núi bị suy thoái. ĐBSCL đang chịu chung số phận đó, thậm chí có thể trầm trọng hơn nếu chúng ta không có giải pháp để ngăn chặn.

Từ lâu nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước kể cả chí thức kiều bào rất quan tâm đến vấn đề ô nhiễm ĐBSCL. Theo Tiến sĩ Chế Đình Lý “ĐBSCL là một hệ sinh thái đất ngập nước có quy mô 39.747km2 chiếm 12% diện tích cả nước, 90% diện tích ngập nước theo mùa lũ… Là hệ sinh thái ngập nước, ĐBSCL rất nhạy cảm và dể bị tổn thương với môi trường nước … Đang là hệ sinh thái đất ngập nước với sự trù phú vốn có, nếu chúng ta phát triển công nghiệp ồ ạt gây ô nhiễm môi trường nước, ĐBSCL sẽ bị thay đổi và khó phục hồi lại”. Tôi cũng đồng ý với KTS. Nguyễn Hữu Thái một trí thức kiều bào ở Canada “Nguy cơ lớn nhất trước mắt cho ĐBSCL là vấn đề môi trường”. Để chứng minh cho điều này ông Phạm Đình Đôn – Chi Cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường khu Tây Nam bộ xác định rõ nguyên nhân chính dẫn đến việc gây ô nhiễm nguồn nước ĐBSCL “Hiện nay trong khu vực ĐBSCL có 12.757 doanh nghiệp, 113 KCN và cụm công nghiệp, hàng năm thải ra 47,2 triệu m3 nước thải công nghiệp (trong đó có 70% chưa có hệ thống xử lý nước thải), còn rác thải công nghiệp là 220.000 tấn/năm. Riêng rác thải do sinh hoạt và đời sống là 600.000 tấn/năm, nước thải là 102 triệu tấn/năm. Trong nuôi trồng thuỷ sản thì bùn thải và chất thải là 456,6 triệu m3/năm. Trong canh tác nông nghiệp hằng năm sử dụng 2 triệu tấn phân bón hóa học, 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật nhưng chưa có giải pháp xử lý dư lượng chất độc tồn dư trong nước. Trong y tế thì lượng rác thải là 3.800 tấn/năm mà các nguồn thải này vẫn chưa được xử lý triệt để”. Những thông tin này đã chứng minh mức nghiêm trọng ô nhiễm môi trường ĐBSCL. Thật sự môi trường ĐBSCL đang “kêu cứu”.

Vấn đề cấp thiết đặt ra trong cuộc hội thảo này là tại sao từ lâu rồi ĐBSCL đã kêu cứu nhưng càng kêu cứu thì tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng hơn? Trách nhiệm này thuộc về ai? Theo tôi có mấy giải pháp cụ thể như sau:

· Về luật pháp:

a. Bắt buộc các doanh nghiệp và các tổ chức liên quan chấp hành nghiêm túc pháp luật về môi trường đối với công ty hạ tầng và các xí nghiệp đã và đang vào khu, cụm công nghiệp.

– Đối với công ty hạ tầng khu, cụm công nghiệp qui định bắt buộc phải có bể xử lý nước thải chung và các doanh nghiệp trong khu, cụm công nghiệp phải xây dựng hệ thống, xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn và phải kết nối với bể xử lý nước thải chung của toàn khu. Trong một thời hạn nhất định nếu vi phạm sẽ xử phạt thật nghiêm hoặc đình chỉ hoạt động. Cần có tổ chức thanh tra về môi trường định kỳ và đột xuất trong các khu, cụm công nghiệp.

b. Khi thành lập KCN, cụm công nghiệp phải có thiết kế xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Mọi chất thải được xử lý và nhà đầu tư phải chi trả cho chi phí xử lý chất thải. Cần đưa ra nguyên tắc công bằng “người gây ra ô nhiễm môi trường phải đền bù thiệt hại” như Thái Lan đã làm. Nếu doanh nghiệp nào trong đề án đầu tư vào khu, cụm công nghiệp chưa có đánh giá tác động môi trường và chưa có cam kết nghiêm tục thì chưa có phép đi vào hoạt động.

c. Luật môi trường cần phải quán triệt ở các cấp tỉnh, quận, phường xã và người dân, trong đó có nhà đầu tư v.v… nhằm để huy động sức mạnh toàn xã hội trong gìn giữ bảo vệ môi trường.

d. Cần tập trung đào tạo các bộ quản lý môi trường từ đại học, cao đẳng, trung cấp v.v … được bố trí ở các cấp, ở Ban quản lý KCX, KCN ở công ty hạ tầng và ở từng doanh nghiệp trong khu và cụm công nghiệp để tạo điều kiện chuyên nghiệp hoá trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm túc luật môi trường.

e. Triển khai mạnh mẽ tổ chức “Cảnh sát môi trường” hoạt động có hiệu quả ở từng khu và cụm công nghiệp.

g. Sử dụng công nghệ hiện đại để xử lý môi trường đã và đang phát sinh trong khu, cụm công nghiệp.

* Kiên quyết chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu đầu tư trong khu và cụm công nghiệp.

Bộ kế hoạch – Đầu tư, UBND tỉnh thành, Ban quản lý KCN, KCX nên xem dự án đầu tư có công nghệ ít ô nhiễm môi trường nhất là hướng về công nghiệp kỹ thuật cao và ưu tiên công nghiệp chế biến nông sản sử dụng nguồn nguyên liệu của địa phương. Phải từ chối dứt khoát dự án sản xuất gây ô nhiễm nguồn nước. Coi đây là nguyên tắc. Thanh tra chính phủ cần định kỳ kiểm tra và mạnh dạn rút giấy phép dự án nào vi phạm nguyên tắc này.

* Chúng ta cần thống nhất rằng khu, cụm công nghiệp chỉ góp phần công nghiệp hoá nông nghiệp và ĐBSCL. Nhưng nhiệm vụ trọng tâm của ĐBSCL là công nghiệp hoá nông nghiệp. Nên sớm đưa nông nghiệp công nghệ cao vào ĐBSCL để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả cho sản xuất đây là vấn đề then chốt. Vì vậy việc xây dựng khu, cụm nông nghiệp kỹ thuật cao là vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách. Coi đây là hướng đầu tư ưu tiên nhất cho ĐBSCL để thực hiện thắng lợi công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, vừa bảo tồn được môi trường sinh thái cho ĐBSCL.

* Về cơ chế quản lý:

a) Thực hiện “cơ chế một cửa” đối với Ban chỉ đạo Tây Nam bộ:

Với cơ chế này Ban chỉ đạo Tây Nam bộ vừa làm tham mưu cho Thủ tướng trong quản lý KCN, KCX, cụm công nghiệp ĐBSCL, vừa thực hiện công tác kiểm tra giám sát để các khu, cụm công nghiệp đi đúng chủ trương luật pháp, vừa làm đầu mối phối hợp các tỉnh để xử lý những vấn đề phát sinh trong khu, cụm công nghiệp vừa vượt ngoài khả năng và phạm vi tỉnh, vừa làm đầu mối phối hợp các tỉnh trong qui hoạch chiến lược và quản lý môi trường toàn vùng, đảm bảo tính đồng bộ nhằm hạn chế tối đa tình trạng mạnh ai nầy làm hoặc cạnh tranh không lành mạnh.

b) Tiếp tục phát huy “cơ chế một cửa tại chỗ” đối với các Ban quản lý khu và cụm công nghiệp. Cần tăng cường thêm quyền hạn cho Ban quản lý trong xây dựng và môi trường, cũng như thực hiện cơ chế tự đảm bảo tài chính như Ban quản lý KCX, KCN thành phố Hồ Chí Minh đã được giao quyền và thực hiện có hiệu quả trong 10 năm qua. Làm như thế sẽ tăng cường năng lực và hiệu quả điều hành của ban quản lý. Tuy nhiên muốn thực hiện cơ chế “một cửa tại chỗ” có hiệu quả tỉnh thành và ủy ban phải tăng cường đội ngũ cán bộ có tâm huyết và có bản lĩnh kiến thức quản lý cũng như có khả năng đối tác với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

* Vấn đề vai trò KCX, KCN ĐBSCL trong quá trình hội nhập quốc tế:

a/ Về quan điểm: Khi Việt Nam và ĐBSCL tham gia WTO để tạo thế hội nhập quốc tế chúng ta cần thấy ngày càng rõ hơn vai trò của khu, cụm công nghiệpĐBSCL ngày càng trở thành thực lực của nền kinh tế của ĐBSCL, là một trong các thế mạnh của ĐBSCL trong hội nhập quốc tế.

-Để thực hiện càng tốt vai trò này khu, cụm công nghiệp ĐBSCL càng phải hiện đại hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, chất lượng ngày càng cao hơn để cùng các ngành khác tạo thế cạnh tranh trong hội nhập quốc tế.

– Trong việc tạo thế mạnh cho ĐBSCL trong hội nhập quốc tế vấn đề then chốt và khu, cụm công nghiệp phải phối hợp ngày càng có hiệu quả hơn với nông nghiệp để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn. Đồng thời phối hợp giữa khu, cụm công nghiệp toàn vùng ĐBSCL làm được điều này sức mạnh ĐBSCL sẽ được nhân lên gấp bội.

b/ Về giải pháp:

– Để ĐBSCL hội nhập quốc tế có hiệu quả vấn đề hàng đầu là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho KCN, KCX.

– Hệ thống tổ chức chính trị và bộ máy quản lý nhà nước phải được hoàn thiện đủ kiến thức, năng lực và bản lĩnh để đưa ĐBSCL phát triển toàn diện trở thành quả đầm chiến lược của cả nước trong hội nhập và cạnh tranh quốc tế, trong đó cần tăng cường năng lực quản lý nhà nước cho Ban quản lý KCX, KCN ĐBSCL. Cần tạo thế liên kết giữa ban quản lý các khu, cụm công nghiệp ĐBSCL với nhau. Hàng năm giữa các ban quản lý khu, cụm công nghiệp ĐBSCL tổ chức giao ban để trao đổi rút kinh nghiệm trong phát triển và hội nhập quốc tế của các khu và cụm công nghiệp.

Vĩnh Biệt Chú Võ Văn Kiệt ( Chú Sáu Dân)

***

Ai cũng bàng hoàng lẫn tiếc thương

Sáng nay trời đất bỗng u buồn

Mưa rơi tầm tã trên đường phố

Như khóc người con đất Vĩnh Long

***

Vũng Liêm thuở ấy còn đen tối

Nốp giáo vai mang chú lên đường

Từ đó vượt qua bao sóng gió

Đem lại quê nhà những chiến công

***

Chú từ Khu 9 lên Khu 4

Đứng đầu trong hang ổ quân thù

Phong trào đô thị lên cuồn cuộn

Bất chấp đan bom với ngục tù

***

Nhớ đến thời gian còn bao cấp

Chú nguyện đổi mới và hội nhập

Làm cho nước mạnh với dân giàu

***

Con đường đi tới đã chọn rồi

Hết lòng vì nước cả cuộc đời

Như 9 dòng sông cùng hợp lại

Giữ vững tay chèo trước biển khơi

***

Còn bao công việc chứa trong lòng

Chú đi chưa hết nợ non sông

Ngày đêm trăn trở và mong mỏi

“Đoàn kết, đoàn kết mới thành công”

***

Công chú mai sau mãi khắc ghi

Cuộc đời như những trang sử thi

Thúc giục mọi người lên phía trước

Tiếp tục làm nên chuyện thần kỳ

***

Nén lòng tiễn Chú về theo Bác

Tưởng chừng Chú vẫn còn đâu đây

Kêu gọi chung tay và gắng sức

Xây dựng thành công sự nghiệp này.

***

Thành phó Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 06 năm 2008

Thiên Lý

Older Posts »

Categories

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.